Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (Tập 9)

Các vị pháp sư, các vị đồng tu, xin mời ngồi! Mời xem Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán, bổn văn đoạn thứ nhất. Chúng ta đọc qua vài câu trước: “Nhất hiển nhất thể giả, vị tự tánh thanh tịnh viên minh thể, nhiên thử tức thị Như lai tạng trung pháp tánh chi thể, tùng bổn dĩ lai tự tánh mãn túc, xứ nhiễm bất cấu, tu trị bất tịnh, cố vân tự tánh thanh tịnh”.

Chúng ta ở ngay trong đoạn này xem thấy Phật pháp có một danh từ chuyên môn, đó chính là “Như Lai Tạng”. Như Lai Tạng trong đại thừa giáo có rất nhiều cách nói khác nhau. Tạng chính là ý nghĩa hàm chứa, cũng như là cái kho vậy, như trong nhà Phật chúng ta gọi Đại Tạng kinh, cái tạng đó chính là ý nghĩa của sự cất chứa, kinh điển được cất chứa trong kho tàng đó, như cất chứa trong kho hàng vậy.

Rốt cuộc là chân như cất chứa trong phiền não hay là phiền não cất chứa ở trong chân như? Việc này chư Phật Như Lai, tổ sư đại đức đã nói cho chúng ta nghe rất nhiều, phải từ phương diện nào mà quan sát? Chúng ta học tập danh từ này cũng xem là một khoá mục. Phải nên biết chân như và phiền não là một không phải là hai, khi mê thì chân như liền biến thành phiền não, và Như Lai tạng, Như Lai hàm tàng trong phiền não; sau khi giác ngộ thì phiền não chính là chân như. Danh từ của nó rất nhiều, phía trước chúng ta đã đọc qua, chân như ở ngay trong phiền não thì gọi là Như Lai Tạng, chân như nếu như thoát khỏi phiền não thì chính là giác ngộ. Phiền não giác ngộ rồi thì gọi là pháp thân. Phật đã dùng rất nhiều danh từ thuật ngữ khác nhau, dụng ý ở đâu vậy? Chúng ta nhất định phải nên biết, dạy chúng ta không nên chấp trước tướng danh tự, chấp trước tướng danh tự thì sai. Ngay đến Lão Tử đạo Gia của Trung Quốc, câu đầu tiên cũng là dạy chúng ta như vậy: “Đạo khả đạo, phi thường đạo, danh khả danh, phi thường danh”, chỗ này chính là dạy chúng ta không nên chấp trước.

Bồ-tát Mã Minh trong Khởi Tín Luận dạy chúng ta, phải dùng tâm trạng thế nào để học Phật? Ngài nói cho chúng ta nghe ba câu.

Thứ nhất, học Phật một là đọc kinh, một là nghe giảng; đọc kinh, thính giáo đều phải biết không dính vào tướng lời nói, khi chúng ta nghe giảng không nên dính vào ngôn ngữ. Văn tự của kinh điển là phù hiệu của ngôn ngữ, cũng chính là nói không chấp trước vào ngôn ngữ, bạn cũng không chấp trước vào văn tự, chấp trước văn tự là sai, bạn phải hiểu được cái ý nghĩa của nó. Cái ý ở đâu vậy? Ý ở ngoài lời. Đó là cái khó của Phật pháp, bạn cần phải nên hiểu. Cho nên tiếng kỳ diệu ngoài dây đàn, bạn không thể nói ra được. Ngôn  ngữ là một loại phương tiện khéo léo, phải đem nó làm nổi bật lên, bạn phải có cái năng lực này.

Thứ hai, không nên chấp trước cái tướng danh tự, chính là thuật ngữ danh từ, đó là giả lập, giả thiết. Tại vì sao phải giả thiết? Những danh từ thuật ngữ này, bạn hiểu được hàm ý của nó liền sẽ bớt đi rất nhiều việc, chỗ này chính là hiện tại trong học thuật đều có chuyên môn thuật ngữ, hàm nghĩa trong đây rất sâu rất rộng, dùng danh từ đơn giản đem nó nói rõ ra.

Thứ ba, không nên chấp trước tướng tâm duyên. Tâm duyên là bạn nghe rồi, bạn thấy rồi, bạn khởi tâm động niệm ở trong đó nghĩ tưởng nó là ý nghĩa gì. Chỗ này không thể tưởng, vừa tưởng thì sai. Vì sao là sai? Bởi vì Phật nói pháp, Bồ-tát nói pháp đều không khởi tâm động niệm. Khởi tâm động niệm còn không có thì làm gì có phân biệt chấp trước? Cho nên chúng ta chính mình cũng cần phải không khởi tâm không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, thì nghe lời nói của ngài liền có mùi vị, vừa nghe liền hiểu. Chúng ta chính mình khởi tâm động niệm, phân biệt chấp trước, còn người giảng kinh nói pháp không khởi tâm không động niệm, họ cũng không có phân biệt, cũng không có chấp trước, bạn nói xem chúng ta làm sao có thể nghe hiểu lời nói của các ngài? Cho nên tuyệt đại đa số người học Phật, nghe kinh hoặc là đọc kinh, đó là ý của ai vậy? đều là ý của chính mình, không phải là ý của Phật. Cho nên trong kệ khai kinh nói rất hay: “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Câu nói này không dễ dàng, nếu là bạn có thể hiểu được chân thật nghĩa của Như Lai, bạn liền vào cảnh giới Như Lai; chưa vào được cảnh giới Như Lai, bạn nghe hiểu rồi có đạo lý, thấy được không tệ nhưng toàn là ý của riêng mình, không phải chân thật nghĩa của Như Lai, cái đạo lý này phải hiểu. Đương nhiên chúng ta hiểu rõ rồi, nhất thời không làm được, nhất thời vẫn là phải dùng ý nghĩ của mình để phán đoán, hy vọng cái ý này của chính mình cùng với chân thật nghĩa của Như Lai càng ngày càng tiếp cận thì tốt, vậy thì xem không tệ rồi, có thể không có sự sai lệch. Nếu như chúng ta chấp trước lời nói, chấp trước danh tướng, thì luôn là đi sai lệch. Cho nên trong việc này, Phật nói ra rất nhiều danh tướng, dụng ý rất sâu, biết được tất cả danh tướng chỉ là nói một sự việc thì sẽ không chấp trước. Nếu như ngài chuyên dùng một danh từ để nói một sự việc, thì chúng ta dễ dàng sanh ra chấp trước. Cho nên giáo học của Phật pháp, phía trước đã nói qua rất nhiều, then chốt nhất là giúp cho chúng ta khai ngộ, không phải dạy chúng ta nhớ được nhiều, nghe được nhiều, hoặc giả là nhớ được nhiều. Học thuộc lòng chính là ghi nhớ. Ngay đến cổ thánh tiên hiền đều nói “ký vấn chi học bất túc dĩ vi nhân sư dã”. Ký vấn chi học là gì vậy? Lời hiện đại chúng ta thường nói là thường thức rất phong phú, danh từ dùng ở trên học thuật, như tri thức hiện tại đã nói “nghe nhiều nhớ giỏi, tri thức rất phong phú”. Cổ thánh tiên hiền ta chúng ta nói, tri thức có phong phú hơn “vẫn chưa đủ làm thầy người”. Phải là người thế nào mới là thầy giáo tốt? Trí tuệ, trí tuệ không phải là nhớ, dùng trí tuệ giải quyết vấn đề nhất định không hề có di chứng phụ, vì sao vậy? Vì có chính xác. Tri thức không đáng tin. Dùng khoa học gia để nói, phía trước nhà khoa học phát minh ra một định luật, cho rằng là chân lý, trải qua mấy mươi năm, phía sau lại có một khoa học gia khác lật đổ đi định luật của họ, đó là gì vậy? Đó là tri thức. Nếu như là trí tuệ thì vĩnh viễn không bị lật đổ. Cho nên người đông phương chú trọng cầu trí tuệ, không giống như người phương tây, người tây phương học toàn đều là tri thức. Việc này phải biết. Trong tri thức có phân biệt chấp trước, trong trí tuệ thì không có, cho nên nếu như là không có phân biệt chấp trước, vậy bạn mới có thể tiếp cận Như Lai Tạng. Đến không khởi tâm không động niệm, vậy thì bạn chứng được Như Lai Tạng, bạn  thật đã triệt để thấu hiểu. Cho nên trong “Phật Tánh Luận” nói Như Lai tạng, cái tạng này có ba ý nghĩa.

Chúng ta học đoạn thứ nhất chưa xong, hôm nay chúng ta lại tiếp tục học, chúng ta đem đoạn này đọc qua một lần: “Nhất, sở nhiếp chi nghĩa, chân như lập ư chúng sanh cho vị”. Chúng sanh chính là chúng sanh sáu cõi, chính là giống như giai đoạn hiện tại này của chúng ta, ở giai đoạn hiện tại chúng ta, ở ngay vị trí này “tắc hàm hoà hợp bất hoà hợp chi nhị môn”. Hiện tại chúng ta đích thực hoà hợp không hoà hợp chính là đối lập, chính là tương đối, nhà khoa học gọi là tương đối luận, cái này chính là tương đối. “Vi hoà hợp môn giả sanh nhất thiết chi nhiễm pháp”. Chỗ này cho nó là như hoà hợp môn thì nó liền sanh ra nhiễm pháp, nếu như bất hoà hợp môn liền có thể sanh ra tất cả tịnh pháp. “Tất cả nhiễm tịnh chi pháp, giai nhiếp ư Như Lai chi tánh, tức chân như, cố vân Như Lai Tạng”. Hôm qua chúng ta học đến chỗ này. Hôm nay chúng ta học tiếp theo: “Dị ngôn chi”.

Dị ngôn chi, chính là nói khác cách “chân như nhiếp tất cả pháp”. Chân như là tự tánh, là cái gì vậy? Chính là trong thiên văn chương này nói “tự tánh thanh tịnh viên minh thể”, nó không phải tất cả pháp. Cái tự tánh thanh tịnh viên minh thể chính là chân như bổn tánh mà thông thường chúng ta hay gọi, hoặc giả nói chân như bổn tánh danh từ rất nhiều, gọi tắt là chân như cũng được, gọi tắt là tự tánh cũng được, phải biết đều là nói đến một việc. Phật dạy chúng ta không nên chấp trước, không nên phân biệt, bạn phải hiểu được cái ý này. Đó là gì vậy? Đó là bản thể của tất cả pháp, triết học gọi là bản thể, gọi là hiện tượng. Hiện tượng là tất cả pháp. Bản thể là chân như, chính là tự tánh. Thế nhưng trong tự tánh đích thực là không có tất cả pháp, nó không phải là tất cả pháp, nó năng hiện tất cả pháp. Cái nhiếp này chính là ý nghĩa của nhiếp thọ, tất cả pháp không rời nó, nó cũng không phải là tất cả pháp, tất cả pháp cũng không phải là chân như, cho nên chúng ta nói đến vấn đề này, thì thường hay dùng màn hình cùng sắc tướng của tivi để làm thí dụ. Chân như là cái gì vậy? Chân thật là màn hình. Tất cả pháp là cái gì? Tất cả pháp là âm thanh, sắc tướng hiển thị trên màn hình. Các vị hãy thử nghĩ xem, màn hình có phải là âm thanh sắc tướng hay không? Không phải. Âm thanh sắc tướng có phải là màn hình hay không? Cũng là không phải, thế nhưng màn hình đích thực có thể nhiếp tất cả pháp, chính là tất cả pháp không rời khỏi màn hình, nó có cái hiện tượng này tồn tại. Tuy tồn tại nhưng nó tuyệt đối không phải, bạn không thể đem tất cả pháp xem thành chân như, thế nhưng tất cả pháp cũng không thể nói không phải chân như, cho nên dù bạn nói thế nào, chỉ cần có phân biệt chấp trước thì đều là sai; nếu như rời khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, không luận nói thế nào cũng đều đúng. Cái đúng sai đó không có tiêu chuẩn, đều là ở mê ngộ khác nhau. Ngộ rồi thì nói thế nào cũng đúng, mê rồi thì có nói thế nào cũng đều sai, đó gọi là Hoa Nghiêm Áo Chỉ. Áo là sâu diệu, bí mật.

“Như Lai Tạng nhất thiết pháp”, Như Lai chính là chân như, tạng chứa tất cả pháp, trên thực tế Đại sư Huệ Năng khai ngộ đã nói năm câu. Chỗ này ngài đã nói “nào ngờ tự tánh”. Tự tánh chính là chỗ này nói chân như, tự tánh, tự tánh thanh tịnh viên minh thể, “nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ”, chính là cái ý này, tuy là không có tất cả pháp mà nó đầy đủ tất cả pháp, vì sao vậy? Nó có thể hiện tất cả pháp. Câu sau cùng ngài nói “nào ngờ tự tánh năng sanh vạn pháp”. Cũng giống như màn hình tivi chúng ta vậy, màn hình tivi không phải là tất cả pháp, mà trên màn hình tivi thì thứ gì cũng có, năng hiện tất cả sắc tướng, chính là cái ý này. Nó năng hiện, cho nên từ năng hiện, màn hình chính là gom nhiếp tất cả pháp, có cái ý này tồn tại. Như Lai thì tạng chứa tất cả pháp, dường như nó thâu tàng ở trong. Những lời nói này đều là tỷ dụ, ý nghĩa rất là sâu, chúng ta phải rất tỉ mỉ mà thể hội, vạn nhất không nên chấp trước. Trong Như Lai tạng chứa nhiều thứ đến như vậy, chúng ta thử nghĩ xem, trong màn hình tivi chúng ta có phải là cất chứa rất nhiều âm thanh sắc tướng trong các kênh đài hay không? Người chân thật triệt để thấu suốt có thể nói như vậy, họ không hề nói sai, nhưng nếu như không tường tận cho rằng là thật có, vậy thì bạn sai hoàn toàn. Có thể nói như vậy, người ngộ thì không có sai, người mê nếu bạn nói như vậy, cùng nói giống như họ vậy thì bạn sai rồi, vì sao vậy? Bạn cho rằng nó thật đang hàm chứa trong đó. Đó là Phật pháp đến tầng cao, khi đến trình độ cao. Không dễ dàng gì hiểu được chỗ này, chính là nói tất cả đều không thể đem nó nói là thật, cũng không thể nói nó chết rồi, nó là linh động hoạt bát, biến hóa vô cùng.

Chúng ta ở trong sáu đoạn này, bạn xem đoạn thứ hai “khởi nhị dụng”, đoạn thứ ba nói với chúng ta tác dụng, trong đó có ba loại châu biến, đây chính là nguyên lý trong đó, lý luận để căn cứ. Tánh đức không thể nghĩ bàn, không cách gì tưởng tượng. Phía sau trên kinh Lăng Nghiêm đã nói mấy câu “Như Lai chi tạng thì thiện bất thiện nhân, năng biến dữ tạo nhất thiết chúng sanh”. Lời nói thật đơn giản, sự tướng đã nói là phức tạp đến như thế. “Như Lai chi tạng”, chúng ta dùng lời đơn giản mà nói, cái chữ này chúng ta đem nó đọc thành “Tạng”. Tạng chứa trong Như Lai có thiện, có bất thiện. Như Lai Tạng là gì? Các đại sư của Duy Thức Học đem nó thí dụ như nhà kho, Như Lai tạng chính là một cái nhà kho, bất cứ thứ gì đều cất chứa trong đó. Người thông thường hiện tại chúng ta nói, chúng ta thấy sắc nghe tướng đều sẽ ghi lại ấn tượng, xem thấy tốt thì có ấn tượng tốt, xem thấy không tốt thì ghi lại ấn tượng không tốt, cái ấn tượng này ghi lại vào đâu vậy? Chính là ghi lại ở trong Như Lai tạng, nó là một kho chứa, tốt nó cũng cất, không tốt nó cũng cất, thanh tịnh cất vào, ô nhiễm cũng cất luôn, trong đó cất giữ có hạt giống Phật, có Bồ-tát, có Thanh Văn Duyên giác, có chư thiên, có người, cũng có địa ngục, cũng có ngạ quỷ, cũng có súc sanh, tất cả đều có trong đó,. Đó chính là nhân thiện và bất thiện. Ba đường ác bất thiện, A-tu-la bất thiện, La-sát bất thiện, Ma vương bất thiện, nó tất cả đều có, đều gom nhiếp ở trong đó. Tóm lại mà nói, trong kinh Phật gọi là vọng tâm, đó không phải là chân tâm, đó là vọng tâm. Trong vọng tâm của bạn liền có mười pháp giới, nhân thiện và bất thiện. Thế nhưng bạn phải nên biết tự tánh chân tâm, chân như là chân tâm, trong chân tâm không có bất cứ thứ gì, thiện cũng không có, bất thiện cũng không có; không chỉ không có thiện và bất thiện, thanh tịnh cũng không có, ô nhiễm cũng không. Lại nói rõ cho bạn nghe thấu triệt hơn một chút, hiện tượng vật chất không có, hiện tượng tinh thần cũng không có, cho nên nó gọi là Thanh tịnh Viên Minh thể, nó không nhiễm đó là chân tâm. Phàm hễ dùng chân tâm thì chúng ta gọi họ là Phật, Phật là dùng chân tâm. Bồ-tát thì phải thêm vào hai chữ, gọi pháp thân Bồ-tát họ dùng là chân tâm, không phải pháp thân Bồ-tát thì họ vẫn là dùng vọng tâm, cũng chính là dùng A-lại-da. A-lại-da chính là thức thứ tám. Thức thứ tám gọi là tạng thức, cũng giống như một cái kho vậy. Chỗ này Như Lai Tạng chính là nói thức thứ tám. Thế nhưng thông thường chúng ta gọi thức thứ tám, hơn phân nửa mà nó hàm chứa là ô nhiễm. Nói thanh tịnh thì gọi là Như Lai tạng, nói ô nhiễm thì gọi là thức thứ tám, trên thực tế chỉ là một việc. Tập khí chủng tử trong đây có phần thiện bất thiện, có phần nhiễm tịnh, như vậy nó có thể biến hưng tạo tất cả chúng sanh. Biến là phổ biến, hưng tạo chính là “năng sanh vạn pháp” mà Lục Tổ đã nói.

Tất cả chúng sanh là vạn pháp. Chúng sanh ở chỗ này nói là nghĩa rộng, không phải nghĩa hẹp. Thông thường chúng ta nói chúng sanh đều là nói chúng sanh hữu tình, dùng lời hiện tại mà nói gọi là động vật, hoặc giả ý nghĩa có hẹp hơn thì gọi rất nhiều người, rất nhiều người chúng ta gọi là chúng sanh. Kỳ thật ý nghĩa hai chữ chúng sanh này của nhà Phật là chúng duyên hoà hợp mà sanh ra hiện tượng gọi là chúng sanh. Cái ý nghĩa này thì quá rộng. Người là do chúng duyên hoà hợp mà sanh ra hiện tượng. Động vật thì sao? Động vật cũng là chúng duyên hoà hợp mà sanh khởi ra hiện tượng. Thực vật thì sao? Thực vật vẫn là vậy, ngay khoáng vật cũng là vậy. Không những khoáng vật là vậy, hiện tượng tự nhiên cũng là vậy, gió mây mưa sương là hiện tượng tự nhiên vẫn là chúng duyên hoà hợp mà sanh ra, cho nên chúng duyên hoà hợp mà sanh ra hiện tượng thì gọi là chúng sanh. Trên kinh Kim Cang nói “phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, đó là chỉ nghĩa rộng. Phàm là chúng duyên hoà hợp mà sanh ra hiện tượng đều không phải là thật, đều là hư vọng. Thí dụ nói động vật, con người chúng ta là động vật, vì sao con người là hư vọng? Con người có sanh lão bệnh tử, không thể thường tồn; thực vật có sanh trụ dị diệt, sơn hà đại địa bao gồm tinh cầu có thành trụ hoại không, cho nên gọi là vô thường, nó không phải là vĩnh hằng. Trong Phật pháp định nghĩa chân cùng vọng, vĩnh hằng thì gọi là chân, không phải vĩnh hằng thì gọi là hư vọng. Vậy chúng ta thử nghĩ xem, giữa vũ trụ này sáu căn chúng ta tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, thứ nào là vĩnh hằng? Không có thứ nào. Đại khái thông thường con người sẽ cho rằng có thể hư không là vĩnh hằng, hư không không có thay đổi, bạn không có thấy hiện tượng sanh lão bệnh tử, cũng không có cái hiện tượng thành trụ hoại không, có thể là vĩnh hằng. Phật nói đó là giả vĩnh hằng, tương tợ vĩnh hằng, không phải là thật. Cách nói này khoa học gia hiện đại chứng thật, khoa học gia nói với chúng ta, thời gian cùng không gian đều không phải thật. Vậy ở trong Phật pháp, thời gian cùng không gian do đâu mà ra? Vẫn là từ trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà biến hiện ra. Nếu như không còn vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đem nó buông bỏ, thì thời gian cùng không gian cũng không có. Các vị phải nên biết, không có thời gian thì không có trước sau, khi không có không gian thì khoảng cách không có, không có xa gần. Thế giới Tây Phương Cực Lạc cách địa cầu chúng ta mười muôn ức cõi nước Phật, nếu như không có thời gian thì thế giới Cực Lạc ở đâu vậy? Thế giới Cực Lạc ở ngay chỗ này. Không có thời gian thì không có người già người trẻ, đều không có, đây đều là thật. Vì sao hiện tại có thời gian, có không gian? Bạn chấp trước nó liền có, bạn phân biệt nó liền có; bạn không chấp trước không phân biệt thì nó không có. Lời nói này là thật, không phải là giả., Người chân thật lão tu, loại cảnh giới này có rất nhiều người đều đã gặp qua, chính là ngay khi tâm địa của họ thanh tịnh, một niệm bất sanh, dường như thời gian dừng lại, thời gian bất động, cái hiện tượng này có.

Trong “Niên Phổ của Lão hoà thượng Hư Vân”, chúng ta xem thấy ngài có nói đến một đoạn sự việc này, thời gian dừng lại, tâm địa của ngài thanh tịnh. Đó là một người tham thiền, khi hoàng hôn đi ra ngoài, mặt trời tuy là vừa mới xuống núi, bầu trời vẫn sáng, ngài từ trong chùa trở lại chồi tranh nhỏ của ngài, phải đi bốn năm mươi phút, có thể đi đến một giờ, khi đi được một nửa đường thì trời bỗng tối om. Thế nhưng tâm địa ngài thanh tịnh không có vọng niệm, nên thời gian liền dừng lại nơi đó, chỉ thấy thời gian dừng lại ở hoàng hôn, rõ ràng tường tận. Đi đến được nửa đường thì gặp được hai người bạn đồng tu, họ đều ở trong chùa, từ bên ngoài trở về chùa, trên tay cầm một cái lồng đèn, gặp được lão Hoà Thượng đều quen biết chào hỏi, liền hỏi lão Hoà Thượng là trời tối đến như vậy, vì sao ngài không cầm đèn vậy? Lão hoà thượng nghe câu hỏi này thì trời lập tức tối sầm, lúc không có người nói với ngài câu này, thời gian khi ngài rời khỏi nơi đó thì vĩnh viễn là thời gian đó. Chỗ này chứng minh, thời gian là từ vọng tưởng sanh, bạn thấy, khi ngài không có ý niệm, mấy giờ thì nó ngay lúc đó dừng lại. Cảnh giới như vậy lão hoà thượng Hư Vân đã gặp qua.

Người gặp qua cảnh giới như vậy cũng rất nhiều, chúng ta đã xem thấy trong truyện ký Phật môn, như pháp sư Viên Anh, việc này ở trong nhà Phật có rất nhiều người đều biết, sau thế chiến thứ hai ngài mới viên tịch. Trong văn tự của kinh Lăng Nghiêm giảng nghĩa, ngài nói với chúng ta một câu chuyện. Câu chuyện này cũng rất kỳ lạ. Ngài ngồi thiền ở trong liêu, đột nhiên nghĩ đến một sự việc lập tức phải đi làm, ngài liền bỏ chân ra để đi làm. Sau khi đi ra ngài nghĩ lại dường như mình chưa mở cửa, cái cửa là đang đóng lại mà, làm sao mà mình có thể đi ra được? Khi quay trở lại là cửa còn đóng, không thể vào được. Chỗ này nói rõ cái gì? Nói rõ cái tường và cửa là giả, không phải là thật, bởi vì bạn có phân biệt chấp trước nên nó khởi tác dụng, bạn liền bị cản trở. Ngay khi trong tâm bạn không có ý niệm, không có cái bức tường, không có cái cửa, không có cái ý niệm này, nó tuy là đóng nhưng vẫn có thể đi qua. Đó là pháp sư Viên Anh có gặp sự việc như vậy, ngài đem nó ghi vào ở trước lời tựa “Giảng Nghĩa”. Chúng ta tin tưởng lão hoà thượng không viết ra câu chuyện này để lừa gạt chúng ta, nhất định đây đều là thật. Chỗ này chính là nói ngày nay chúng ta mỗi chỗ đều có chướng ngại. Chướng ngại từ do đâu mà ra? Chướng ngại từ phân biệt chấp trước mà ra. Nếu như buông bỏ phân biệt chấp trước thì thần thông liền hiện tiền, những thứ chướng ngại này sẽ không chướng ngại được bạn, mắt của bạn có thể nhìn thấu qua, việc này rất dễ dàng, không những mắt có thể nhìn thấu qua, thân của bạn cũng có thể dễ dàng đi qua. Chỗ này nói rõ cái gì? Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, không có gì chướng ngại, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, đó là cảnh giới sự sự vô ngại.

Lý sự vô ngại thì dễ hiểu, sự sự vô ngại không dễ hiểu. Thần thông công năng đặc dị chính là hiện tại sự sự vô ngại mà trên kinh đã nói. Trên kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta, bất cứ việc gì, ngay trong sự và sự không hề chướng ngại, vì sao vậy? Vì tướng có thể không, sự có lý không, cái có đó của nó là huyễn có, nó không phải là thật có. Hơn nữa phàm phu chúng ta tâm ý bất nhất, ngộ nhận cho rằng nó là thật. Cho rằng nó thật có thì nó liền khởi tác dụng, nó thật sanh ra chướng ngại. Lúc nào thì chúng ta có thể làm cho nó được rõ ràng được minh bạch vậy? Phải hiểu được thật rõ ràng, thật tường tận, đem phân biệt chấp trước buông bỏ. Không nên nói phân biệt, chỉ cần đem chấp trước buông bỏ, năng lực xuyên qua tường liền có thể có được. Làm sao biết được? Ở trên kinh Phật nói với chúng ta, Tu Đà Hoàn liền hồi phục hai loại bản năng là thiên nhãn và thiên nhĩ. Chúng ta tu hành có chứng quả hay không? Đến cảnh giới nào? Không cần hỏi người, trên kinh Phật nói rõ ràng đến như vậy, đến lúc nào tầm nhìn của chúng ta có thể thấu suốt, bên ngoài không thể chướng ngại, vậy thật đã chứng quả. Lỗ tai linh thông rồi, âm thanh cực kỳ vi tế cũng có thể nghe được, đó là thiên nhĩ thông. Cách chúng ta mấy mươi dặm, mấy trăm dặm, thậm chí người nói chuyện ở bất kỳ nơi nào trên địa cầu chúng ta cũng có thể nghe được rõ ràng, đó là thiên nhĩ. Loại năng lực này lớn nhỏ cự ly xa gần sẽ không như nhau, mấy mươi dặm đường bạn bè nói chuyện đều có thể nghe được, không cần phải dùng điện thoại di động, không cần dùng điện thoại, tâm vừa tịnh lại vừa chuyên chú nghĩ đến con người này, không những có thể nghe được âm thanh của họ, cũng có thể thấy được hình tướng của họ. Việc như vậy ở Úc Châu, một dãi đất sa mạc trung ương vẫn có thể có được năng lực này. Người ở dãy đất này cười ngạo người thành thị chúng ta, họ gọi chúng ta là người biến đổi gien, bản năng đều bị mất hết, qua lại với bạn bè phương xa, tại vì sao phải dùng máy móc, còn phải dùng máy nghe, vẫn phải dùng cái thứ này? Họ thì lại không cần. Họ có cái năng lực này, chỉ cần ngồi xuống giống như là nhập định vậy, họ liền có thể câu thông, họ cũng có thể xem thấy bạn bè họ đang làm cái gì, cho nên đó là bản năng của con người. Chúng ta là bởi vì vọng tưởng, phân biệt, chấp trước làm mất đi bản năng của chúng ta, biến thành mọi việc đều có chướng ngại.

Cho nên, cái Như Lai tạng này cũng chính là hạt giống hàm tàng trong A-lại-da-thức mà chúng ta thường nói. Đối với chúng ta mà nói, cách nói này mọi người dễ hiểu. Hạt giống của mười pháp giới đều có, tín hiệu này tốt, đối với chúng ta mà nói thì quá tốt. Trong A-lại-da-thức có hạt giống của Phật, hạt giống gặp được duyên liền sẽ khởi lên hiện hành. Cái gì là duyên thành Phật? Cái duyên thù thắng nhất không gì hơn niệm Phật. Niệm Phật là duyên, tự tánh vốn là Phật, hiện tại lại chịu niệm Phật vậy thì tương lai bạn nhất định thành Phật, đạo lý chính là như vậy. Cho nên tổ sư đại đức của Tịnh Tông thường nói “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”, lời nói này thật có đạo lý. Niệm Bồ-tát thì thành Bồ-tát. Duyên của Bồ-tát là gì vậy? Là tu Lục độ, ưa thích bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, ngay một đời ưa thích những thứ này, chăm chỉ nỗ lực học tập, tương lai họ đương nhiên thành Bồ-tát. Thế nhưng hiện tại chúng ta xem thử, tuyệt đại đa số người, tuy là có cái nhân Phật, có cái nhân Bồ-tát, có cái nhân thiên nhân, đó là nhân thiện, thế nhưng họ không hề chú trọng thiện duyên, họ khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, họ chỉ tạo duyên ác. Bạn xem trong A-lại-da-thức chúng ta có tham sân si, thiện ác đều có, mỗi ngày chúng ta niệm lấy tham tài, tham sắc, tham danh, tham lợi, ngày ngày đều làm những thứ này, cái duyên của tâm tham đầy đủ, tương lai đi đến nơi đâu vậy? Tâm tham là đường ngạ quỷ, cho nên mỗi ngày nghĩ những thứ này, làm những thứ này, thì họ đi đến đường ngạ quỷ. Nếu như mỗi ngày là niệm Phật, buông bỏ vạn duyên không nghĩ bất cứ thứ gì, chỉ nghĩ A Di Đà Phật thì là đi con đường Phật đạo, con đường đến thành Phật, cho nên phải xem trọng việc này. Nếu như chúng ta không thể buông bỏ tài sắc danh thực thuỳ, đối với những thứ này khởi lên tâm tham ngày ngày đi mong cầu, thì bạn đang đi con đường ngạ quỷ, tương lai khẳng định đọa vào ngạ quỷ. Người có lòng sân hận nặng, người có lòng đố kỵ nặng, ngày ngày nghĩ đến cái tâm bất bình này, đối với cái này cũng oán hận, đối với cái kia cũng báo oán, loại người này tương lai họ sẽ đi vào đường địa ngục. Còn có một loại người ngu si, phải quấy tà chánh họ đều không rõ ràng, ngu si là đường súc sanh. Chúng ta thử nghĩ xem, nhân của mười pháp giới chúng ta thảy đều có, hiện tại chúng ta đang tu là đường nào? Cả đời này khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, xem tương ưng với cái nhân nào thì họ sẽ liền đi đến đường đó, đây chính là “năng biến hưng tạo nhất thiết chúng sanh”.

Vừa rồi tôi mới nói chúng sanh hữu tình mười pháp giới, tất cả chúng sanh trong đây còn bao gồm hoa cỏ cây cối, bao gồm sơn hà đại địa, tương lai bạn có thể biến thành một gốc cây hay không? Có thể biến thành hoa cỏ cây cối hay không? Có thể! Những gì là có thể? Người đặc biệt ưa thích hoa gì, sau khi chết liền sẽ đi đến cây hoa đó làm thần hoa, đó là biến thành cỏ cây. Mến thích cây này, sau khi chết sẽ lưu luyến liền đi đến cây đó làm thần cây. Đây là thật. Ưa thích sơn thuỷ liền biến thành sơn thần, biến thành thổ thần, thậm chí là biến thành đá cuội, người cực kỳ chấp trước sẽ biến thành đá cuội, chân thật là “hưng tạo tất cả chúng sanh”, cho nên tất cả chúng sanh từ đâu mà đến? Đích thực Phật nói còn thấu triệt hơn so với nhà khoa học, từ nơi góc độ Phật pháp mà nhìn, cả thảy vũ trụ là có một cơ thể, chính là nó có sanh diệt, tất cả hiện tượng vật chất thảy đều có hiện tinh thần trong đó. Tinh thần cùng vật chất vĩnh viễn không thể phân. Hiện tượng tinh thần chính là kiến văn giác tri, thọ tưởng hành thức, đó là hiện tượng tinh thần. Vật chất bùn cát đá cuội thảy đều có kiến văn giác tri, đều có thọ tưởng hành thức.

Giang Bổn Thắng đã làm thí nghiệm nước. Nước là khoáng vật, kết quả thí nghiệm là nó có kiến văn giác tri, nó có thể thấy, nó có thể nghe, nó hiểu được ý của người. Chúng ta dùng niệm thiện đối với nó, hoặc là dùng ác niệm đối với nó, kết tinh phản ứng lại hoàn toàn không giống nhau. Tôi đến Đông Kinh tham quan phòng thí nghiệm của ông ấy, tôi nói với ông ấy, trên kinh Phật nói rõ thông tin này, hôm nay ông thí nghiêm nước ông đã thí nghiệm ra được. Tôi nói, bất cứ vật chất nào cũng đều có, ông nên mở rộng thực nghiệm của ông ra, ngoài thí nghiệm nước ra, bao gồm tất cả vật chất như trần sa ông đều có thể đem nó ra thí nghiệm, ông sẽ phát hiện nó cũng giống y như nước có kiến văn giác tri vậy.

Phật nói với chúng ta, lông tơ trên thân thể người, trong một sợi lông tơ, một sợi lông tơ khi nhổ ra khỏi thân thể vẫn là có kiến văn giác tri, vẫn là có thọ tưởng hành thức. Không thể nghĩ bàn! Lấy một hạt bụi trần trên đại địa, một hạt cát, bạn xem nó cũng đầy đủ, không những đầy đủ, hơn nữa càng không thể nghĩ bàn, cho dù là một hạt cát, một sợi lông tơ, trong nó đầy đủ tin tức, cho dù là khắp pháp giới hư không giới, tất cả tin tức đều ở trong đó. Việc này gần đây nhất khoa học gia nói cho chúng ta nghe tin tức lý luận này, từ trong hình chụp được mà phát hiện ra, trong Phật pháp là nói cái này. Bất cứ một hạt cát nào đều đầy đủ cả vũ trụ, chính là đầy đủ cả thảy tin tức viên mãn trong pháp tánh. Việc này là trên kinh Phật nói. Vậy hiện tại chúng ta xem thấy khoa học tiến bộ, bạn xem thấy một cái đĩa, hay điện thoại cầm tay mà các bạn dùng, đại khái còn chưa lớn hơn ngón út, không bằng ngón út, một thiết bị chỉ lớn bằng vậy, bạn thấy bên trong chứa đựng bao nhiêu dữ liệu? Cái này khiến cho người vô cùng kinh ngạc, thế nhưng trên kinh Phật nói với chúng ta, bạn đem ngón út này nghiền nát, nghiền thành bột nhuyễn, một hạt cực kỳ vi tế mắt thường không thể nhìn thấy, dùng kính hiển vì tầng cao mới có thể quan sát được cái hạt này, trong hạt bụi đó có tin tức của cả thảy vũ trụ. Hiện tại thiết bị bằng ngón út lớn đến như vậy, thứ mà nó cất chứa thì làm sao so bì được chứ! Nó có tin tức đầy đủ hàm chứa trong đó. Cho nên chúng ta phát hiện trong kinh Phật có khoa học cao đẳng, ngày nay có rất nhiều vấn đề trong khoa học vẫn không thể giải thích, không có được đáp án thì trên kinh Phật thảy đều có, chân thật là không thể nghĩ bàn. Cho nên hiện tại có rất nhiều người hỏi tôi, kinh Phật rốt cuộc là giảng nói cái gì? Tôi nói với họ năm cương mục. Tôi nói Phật kinh đối với người thông thường, đối với chúng sanh sáu cõi mà nói, thì Phật Kinh nói luân lý, nói đạo đức, nói nhân quả; còn đối với những người thông minh trí tuệ cao nhân nhất đẳng, trong đó có giảng triết học, có khoa học. Khoa học cùng triết học đều có thể nói đến đỉnh cao nhất, có thể nói đều giảng đến cứu cánh viên mãn. Đó là bản năng trong tự tánh của mỗi người. Có thể biến tạo tất cả chúng sanh chính là tạo ra vũ trụ, tạo thế giới, tạo vạn vật, cho nên vũ trụ, thế giới vạn vật là cùng đồng một thể sinh mạng. Có thể tạo chính là tự tánh thanh tịnh viên minh thể, đó là năng tạo. Bạn gọi nó là chân như cũng được, bạn gọi nó là Phật tánh cũng được, gọi nó là pháp tánh cũng được, gọi nó là A-lại-da-thức cũng được, gọi nó là Như Lai tạng cũng được, Phật đối với sự việc này nói ra hơn một trăm danh từ khác nhau, nhưng đều là nói sự việc này. Chúng ta hiểu được cái ý này, không nên chấp trước ngôn ngữ văn tự của nó. Bạn chân thật học được, chân thật hiểu rõ giác ngộ rồi, trên kinh Thắng Man cũng có một câu nói “nhất thiết chúng sanh vô hữu xuất như như cảnh giả, tịnh vi như như sở nhiếp, cố danh tạng dã”. Cái như như này chính là chân như, vậy chúng ta lại xem được một danh từ nữa. Tất cả chúng sanh không thể nào có thể vượt qua được như như cảnh, đều ở trong cảnh như như, cái như như này chính là chân như. Dùng đến hai chữ như, một cái như là tánh, một cái như là tướng, đây là nói cái gì? Tánh như tướng đó, tướng như tánh đó. Đại đức xưa dùng vàng cùng món đồ bằng vàng làm thí dụ, nói hai cái chữ này. Vàng là thể, vàng ròng có thể làm ra các loại trang sức khác nhau, nhiều kiểu khác nhau, đó là tướng. Tướng chính là vàng, vàng chính là tướng, món đồ nó là vàng, vàng chính là món đồ, nó là một không phải là hai. Thế nhưng từ trên tướng mà nói thì nó là hai tướng khác nhau, từ trên tánh mà nói thì hoàn toàn giống nhau. Thí dụ “lấy vàng làm ra món đồ, thì mọi món đồ đều là vàng”. Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, tướng thì không giống nhau, muôn ngàn sự khác biệt, thế nhưng tánh thì như nhau, đều là từ trong chân như pháp tánh biến ra, là một không phải là hai. Lời nói này trong Phật pháp chúng ta thấy nhiều rồi, cũng nghe nhiều rồi, thế nhưng cảm thọ không sâu, có cảm nhận nhưng không sâu, tự tánh chưa thấy qua.

Các đồng tu học Phật chúng ta, có một vị đồng tu là người làm đồ trang sức, vào lúc đó Hàn Quán Trưởng vẫn còn, ông mời chúng tôi tham quan phòng triển lãm của ông ấy. Phòng triển lãm rất to, đại khái là lớn hơn gấp hai lần phòng thu âm này, trong phòng triển lãm đồ trang sức là do công xưởng của chính họ chế tác, đại khái có hơn hai mươi ngàn loại, không có thứ nào giống nhau, hoàn toàn là do vàng ròng chế tác ra. Thế nhưng ông làm ra là đồ trang sức giả, không phải đồ thật, rất đẹp, nhưng nó lại là vàng xi, là dùng vàng thật mạ lên, vàng xi. Bạn đến nơi đó thấy loá cả mắt, đẹp không thể tả. Loại trang sức này đích thực là kiếm được rất nhiều tiền, vì sao vậy? Mất đi cũng không đau lòng. Bạn mua một bộ đại khái cũng không quá mười mấy đồng, mất đi cũng không thấy hề gì, còn đẹp hơn so với vàng thật, nhưng nó là vàng xi. Chúng ta vừa xem thấy cái hiện tượng này, bởi vì họ đều là người học Phật, tôi nói trên kinh Phật nói “lấy vàng làm đồ, mọi thứ đồ đều là vàng” hiện tại bày ở trước mắt mọi người đều xem thấy. Món đồ đó là gì ? Chính là mười pháp giới y chánh trang nghiêm. Vàng là gì vậy? Vàng chính là pháp tánh, chính là chân như mà ngay chỗ này nói. Chỗ này nói Như Lai tạng, đồng một thể. Nếu như chân thật có thể khế nhập được cảnh giới này, nó là tự nhiên lưu xuất ra từ trong tánh đức.

Cái gì là đức? Lòng yêu thương, phải biết lòng yêu thương là tánh đức của tự tánh, không phải do học mà có. Họ sẽ yêu cái gì? Họ yêu cả thảy vũ trụ, yêu tất cả chúng sanh, chính là đại từ đại bi của Bồ-tát, lòng đại từ đại bi tự nhiên sanh ra. Hiện tại lòng đại từ đại bi này bị dục vọng của bạn chướng ngại mất, bị tự tư tự lợi của bạn chướng ngại mất. Thuận với ý của bạn thì bạn ưa thích họ, không thuận với cái ý của bạn thì bạn không ưa thích họ, cho nên lòng yêu thương của bạn là có phân biệt. Trong Phật pháp nói đến từ bi thì thường nói đến bốn loại từ bi khác nhau, gọi là bốn duyên. Trong phàm phu có từ bi, không thể nói không có, họ có yêu thương, cái ái này gọi là gì vậy? Gọi là ái duyên từ bi, ưa thích bạn thì từ bi đối với bạn, không ưa thích bạn thì sẽ không có, đó là phàm phu. Trong phàm phu, ng (272)

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


− 3 = hai

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: