Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (Tập 6)

Xin chào các pháp sư, các vị đồng tu, xin chào mọi người! Hôm nay chúng ta tiếp tục học Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hòan Nguyên Quán của quốc sư Hiền Thủ.

Lần trước chúng ta học đến “Kim lược minh thử quán, tổng phần lục môn”. Trước tiên nêu tên có sáu đoạn. Chúng ta đã học tập bốn đoạn, đến “hành tứ đức”. Hôm nay chúng ta xem đến điều thứ năm “nhập ngũ chỉ” và điều thứ sáu “khởi lục quán”. Thiên văn tự này là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc tu hành của kinh Hoa Nghiêm. Phía trước chúng ta học đến điều thứ tư. Lần trước chỉ còn lại thời gian của một ngày, vì mọi người giảng mười lợi ích nghe kinh trên kinh Hoa Nghiêm. Vì sao ngay đây thêm vào đoạn này? Là bởi vì vào hiện tại có rất nhiều người đã xem nhẹ việc giảng kinh nghe kinh, cho nên chúng ta đặc biệt xem lại. Phật Bồ-tát tổ sư đại đức hết lời khuyên bảo nhắc nhở chúng ta, khích lệ chúng ta phải phát tâm giảng kinh. Giảng kinh có bốn loại lợi ích; khuyên bảo chúng ta nghe pháp, nghe kinh có mười loại lợi ích; cho nên dùng hai giờ đồng hồ tỉ mỉ giới thiệu cho mọi người. Thiên văn chương này tuy không xem là quá dài, ngày trước chúng ta đã từng giảng qua một lần, đã dùng chín mươi sáu giờ đồng hồ, nói được rất tường tận. Đây là lần giảng thứ hai. Lần giảng thứ hai chúng ta lãnh ngộ càng sâu đối với thiên văn chương này, có thể thời gian cũng sẽ không ngắn hơn lần trước, càng giảng tỉ mỉ thì chúng ta càng có thể có được thọ dụng.

Chúng ta đều biết thế giới hiện nay rất là hỗn loạn, chân thật là loạn thế danh thật tướng giả, tai nạn quá nhiều. Căn nguyên của động loạn này là gì? Là chúng ta không tường tận đối với vũ trụ nhân sanh, thấy sai, nghĩ sai, do đó ngôn hạnh của chúng ta nơi nơi đều có sai lầm. Kết quả của sai lầm chính là tai nạn. Nhân sanh vũ trụ quan chính xác, trong Phật pháp gọi là thật tướng các pháp. Chư pháp là tất cả pháp, bao gồm hoàn cảnh vật chất, hoàn cảnh tinh thần. Chân tướng là gì? Ở trong thiên văn chương này thảy đều nói đến, nói được đến mức chúng ta không thể không bội phục. Đại sư Hiền Thủ đã nói đều là khai thị rất quan trọng trên Kinh Hoa Nghiêm. Thế Tôn vì chúng ta khai thị, trước tiên nói với chúng ta “Nhất Thể”. Cái Nhất thể này chính là trong triết học đã nói, bản thể của vũ trụ nhân sanh, vũ trụ từ do đâu mà có, sinh mạng từ do đâu mà ra. Đó là vấn đề lớn, triết học và khoa học mãi cho đến hiện tại đều không thể định luận, vẫn không thể giải quyết, thế nhưng trong kinh Hoa Nghiêm đã nói cho chúng ta nghe rất rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo. Kinh Hoa Nghiêm có nói sai không vậy? Chúng ta có thể khẳng định là không hề nói sai. Chúng ta dựa vào đâu mà tin tưởng? Dựa vào phương pháp mà nó đã dùng. Phương pháp của nó không giống như phương pháp khoa học ngày nay của chúng ta. Phương pháp khoa học luôn không rời khỏi số học, số học cao thâm, đều dùng máy móc để quan sát, như kính viễn vọng thiên văn dùng để quan sát đối với  thế giới hoằng quan, kính hiển vi cao tần dùng để giúp chúng ta quan sát Vi quan. Khoa học gia dùng máy móc, dùng số lý, còn Phật Bồ-tát không dùng những thứ này, các ngài dùng cái gì? Dùng tâm thanh tịnh.

Phật nói với chúng ta, then chốt nhất trong học Phật chính là buông bỏ.

Tôi rất là may mắn, tôi tiếp xúc Phật pháp khi còn rất trẻ, năm 26 tuổi và cũng ngay năm đó tôi quen biết với đại sư Chương Gia. Thầy Phương Đông Mỹ dạy tôi nhận biết Phật giáo, tôi liền thỉnh giáo với đại sư Chương Gia là có phương pháp nào mau chóng giúp cho tôi khế nhập cảnh giới hay không? Việc này rất quan trọng. Đại sư Chương Gia nói với tôi “nhìn được thấu, buông được xuống”. Thế là chúng ta thâm nhập đại thừa, sau mấy mươi năm mới chân thật hiểu rõ, hơn nữa trong kinh điển đã ghi chép, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta thị hiện tu hành chứng quả chính là nhìn thấu buông bỏ; tổ sư đại đức, như Lục Tổ Huệ Năng vì chúng ta hiện thân nói pháp, cũng chính là nhìn thấu buông bỏ. Đại sư Chương Gia không hề dối gạt tôi. Trên kinh đại thừa đã nói, bạn đầy đủ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì bạn chính là phàm phu sáu cõi, không thể ra khỏi sáu cõi luân hồi. Việc này thì phiền phức, đời đời kiếp kiếp trôi lăn trong luân hồi.

Cái khổ trong luân hồi, hiện tại chúng ta là ở nhân gian, đích thân cảm nhận được. Nếu như chúng ta tỉ mỉ xem qua thế gian này, có rất nhiều người đang trải qua đời sống vô cùng thống khổ, không có thực phẩm, không có quần áo, còn phải thêm những tại nạn tự nhiên và bệnh truyền nhiễm. Nếu như y theo cách nói của đại sư Trí Giả, đại sư ngài giảng Kinh Pháp Hoa nói cho chúng ta nghe “Bách giới thiên như”. Ở trên kinh Phật giảng cho chúng ta nghe mười pháp giới, trong mỗi pháp giới đều đầy đủ có mười pháp giới, mười nhân mười là một trăm, gọi là bách giới, mỗi giới đều có thập như thị. Thập như thị là nói nhân quả. Một trăm pháp giới nhân cho mười chính là thiên như, “bách giới thiên như”. Chúng ta ở nhân gian tỉ mỉ mà quan sát, có Phật nhân gian, có Bồ-tát nhân gian, có nhân thiên nhân gian, có địa ngục nhân gian. Từ ngay chỗ này có thể thể hội được cái khổ của sáu cõi. Phật quy nạp lại giảng cho chúng ta nghe có ba khổ, có tám khổ.

Sáu cõi từ đâu mà ra? Vừa rồi mới nói, bởi vì bạn có vọng tưởng, bạn có phân biệt, bạn có chấp trước, thì sẽ làm cho pháp giới nhất chân biến thành sáu cõi. Phật lại nói với chúng ta, nếu như chúng ta có thể đem chấp trước buông bỏ, không còn chấp trước đối với tất cả pháp thế xuất thế gian, vậy thì bạn liền chứng được quả A La Hán, sáu cõi sẽ không còn, cho nên cái nhân chân thật của nghiệp nhân của sáu cõi chính là chấp trước, niệm Phật cũng không ích gì. Niệm Phật nếu là chấp trước, chấp trước thế xuất thế gian này thì không thể vãng sanh, buông bỏ chấp trước mới có thể vãng sanh. Cho nên nói đới nghiệp (đới nghiệp là mang theo), bạn thấy họ mang theo vọng tưởng, mang theo phân biệt, mang theo chấp trước nhẹ, không phải là chấp trước nghiêm trọng. Chấp trước nghiêm trọng thì không thể mang đi được, cái đạo lý này chúng ta phải hiểu.

Lại tiến thêm một bước, bạn cũng có thể buông bỏ luôn cả phân biệt, không những không chấp trước, mà còn không phân biệt đối với tất cả pháp thế xuất thế gian, cái tâm này sẽ rất thanh tịnh, con người này gọi là Bồ-tát, cao hơn một bậc so với A La Hán. Nếu có thể buông bỏ luôn khởi tâm động niệm…. Khởi tâm động niệm là vọng tưởng. Việc buông bỏ này thật khó, không dễ dàng, chính chúng ta khởi tâm động niệm mà chính mình cũng không hề biết, không hề phát hiện ra, những ý niệm vô cùng vi tế. Cái ý niệm này là chấn động của tâm lý, hiện tại gọi là sóng động, khởi lên ý niệm là sóng động, sóng động của tự tánh. Tự tánh thì không động, trong tự tánh không có hiện tượng sóng động gọi là chân tâm. Trong vọng tâm có hiện tượng sóng động. Vọng tâm là nương chân tâm mà khởi, trong đó không có lý do, cũng không có thời gian, thời gian không gian đều không tồn tại. Nếu như có thể đoạn dứt ý niệm này, vậy thì chúc mừng bạn, bạn liền chứng được Phật quả viên mãn.

Phật quả viên mãn là như thế nào vậy? Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, những gì trong bộ kinh này đã nói chính là dáng vẻ của Phật viên mãn, đích thực rất sâu diệu, cho nên gọi là Hoa Nghiêm Áo Chỉ. “Chỉ” là tông chỉ, tông chỉ vi diệu. “Vọng Tận” chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn tận, vậy thì bạn “Hoàn Nguyên”, gọi là quay về tự tánh. Quay về tự tánh chính là Phật quả viên mãn, cho nên áo mật tu hành, phương pháp tu hành của kinh Hoa Nghiêm chính ngay trong thiên văn chương này.

Vũ trụ từ đâu mà có? Sinh mạng, sinh mạng không nói ai khác, nói chính ta. Chính ta từ đâu đến? Trong Thiền Tông gọi là “phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục”, cái bổn lai diện mục đó chính là ta từ đâu đến. Trên kinh nói được rất thấu triệt, chúng ta có thể tin, vì sao vậy? Bởi vì ngài thấy được, không phải là ngài suy tưởng, không phải ngài dò tìm, cũng không phải là dùng số học để suy tính ra, đích thân ngài thấy được. Phật nói, đến lúc nào thì bạn có thể thấy được? Là Bát Địa Bồ-tát. Bạn có thể chứng được Bồ-tát Bát địa thì bạn liền thấy được. Bạn thấy được vũ trụ từ đâu mà có, bạn thấy được sinh mạng của bạn từ đâu mà có, bạn sẽ chính mắt nhìn thấy, bạn chứng được Bát địa bạn thấy được. Người thấy chứng được Bát địa cũng thấy được, phàm hễ chứng được Bát địa trở lên đều thấy được. Việc này làm gì là giả chứ! Đó không phải giả. Cho nên “khởi nhị dụng” chính là khởi nguồn của hiện tượng vật chất, khởi nguồn của hiện tượng tinh thần là từ nhất thể khởi nhị dụng. Vì sao khởi lên vậy? Chính là trong kinh đại thừa Phật thường nói “một niệm bất giác mà có vô minh”. Vô minh thì lập tức biến thành tam tế tướng, ba phần của A-lại-da là nghiệp tướng, chuyển tướng và cảnh giới tướng.

Nghiệp tướng chính là chuyển động rất vi tế, đó là vô minh, đó là nghiệp tướng. Sau khi vừa động thì hai loại tác dụng liền khởi lên, tướng cảnh giới là hiện tượng vật chất, chuyển tướng là hiện tượng tinh thần, tinh thần cùng hiện tượng vật chất liền xuất hiện, liền đồng thời khởi lên, không có trước sau. Chỗ này phía sau chúng ta sẽ cùng nhau nghiên cứu tỉ mỉ. Sau khi hai dụng khởi lên, hai loại tác dụng này chính là hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần, nó có ba loại châu biến, đó đều là nói hiện tượng bản thể của vũ trụ. Loại châu biến thứ nhất là “phổ châu pháp giới”, loại châu biến thứ hai là “xuất sanh vô tận”, loại châu biến thứ ba là “hàm dung không hữu”. Chỉ cần niệm này vừa khởi, thì tự nhiên liền có hiện tượng này. Hiện tượng này nói rõ vấn đề gì? Nói rõ hết thảy vũ trụ không luận là hữu tình hay vô tình đều có quan hệ mật thiết với chính chúng ta. Vì sao vậy? Chúng ta khởi lên một ý niệm, chúng nó toàn bộ đều cảm nhận được, hơn nữa tốc độ đó không cách gì tưởng tượng.

Hiện tại ở trong hiện tượng vật lý mọi người đều biết, tốc độ nhanh nhất là tốc độ ánh sáng. Sóng điện từ và tốc độ ánh sáng là gần như nhau, một giây ba mươi vạn cây số. Thật ra, tốc độ này không thể sánh được với khởi niệm của chúng ta, tốc độ sóng động của ý niệm của chúng ta. Sóng động ý niệm này của chúng ta, ý niệm mới vừa khởi, nó đã trùm khắp pháp giới, hư không giới, dùng lời hiện tại chính là nó đã châu biến khắp cả vũ trụ, ánh sáng làm sao có thể so sánh với nó! Tốc độ của ánh sáng quá chậm. Đó là tự nhiên, trong tự tánh nó vốn dĩ là đầy đủ, là viên mãn.

Phía sau ngài nói nó khởi tác dụng, tác dụng của nó là “bốn đức”. Bốn đức phía trước chúng ta đã nói qua, thứ nhất là “tuỳ duyên diệu dụng”. Nếu như chúng ta có thể học đến chỗ này, tuy là học không đến, có thể làm đến được một phần đến hai phần, đó chính là hiện tại chúng ta đã nói hạnh phúc mỹ mãn; học được một phần, hai phần chính là đời sống nhân gian hạnh phúc mỹ mãn. Chư Phật Bồ-tát tùy duyên ứng hoá ở nhân gian, như Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa ứng hóa trên địa cầu này của chúng ta, rất nhiều Phật Bồ-tát ứng hoá ở Trung Quốc, có đại đức xuất gia, có cư sĩ tại gia, còn có ở trong các ngành các nghề, những đại đức này xuất sắc siêu việt, là Phật Bồ-tát ứng hoá; họ có thể tuỳ duyên. Như trong Phổ Môn Phẩm đã nói, đáng dùng thân gì để độ thì liền hiện thân đó, đó là ứng hoá thân. Diệu dụng là gì vậy? Diệu dụng là không luận ngài biến hoá thế nào, không luận ngài có bao nhiêu hoạt động, ngài chưa từng khởi tâm động niệm. Khởi tâm động niệm còn không có, thì ngài làm gì có phân biệt chấp trước! Đó là ngài chứng được, ngài đã Hoàn Nguyên, Vọng Tận Hoàn Nguyên, ngài đã không còn mê nữa, vĩnh viễn không mê, vĩnh viễn trụ ở giác chánh tịnh. Không như chúng ta, chúng ta rất đáng thương, chúng ta là mê tà nhiễm, các ngài vĩnh viễn là giác chánh tịnh, đó gọi là diệu dụng.

Thứ hai là “Oai nghi hữu tắc”. Oai nghi, có thể nói là từ tư tưởng của ngài đến ngôn hạnh của ngài đều có thể làm tấm gương tốt cho chúng sanh sáu cõi. “Tắc” là có nguyên tắc, có qui củ, giúp đỡ chúng sanh quay đầu là bờ. Chúng sanh mê đã quá sâu, các ngài giúp đỡ họ, dẫn dắt họ chuyển ác thành thiện, tuy là không ra khỏi sáu cõi, họ không đọa ba đường ác. Nếu có người tương đối có trình độ đối với Phật pháp, thì giúp cho họ chuyển mê khai ngộ. Nếu họ vừa giác ngộ, giác ngộ chính là đem phân biệt chấp trước buông bỏ; phân biệt, chấp trước đều buông bỏ thì họ thành Bồ-tát; chưa buông bỏ phân biệt nhưng buông bỏ chấp trước thì họ thành A La Hán, thành Bích Chi Phật, sáu cõi không còn, siêu việt sáu cõi, đó là giúp đỡ họ. Bạn làm gương tốt cho họ xem, chính mình phải làm tấm gương giác ngộ, phải làm tấm gương đoạn ác tu thiện để cho người xem, đó là thân giáo. Thân giáo còn quan trọng hơn ngôn giáo. Chư Phật Bồ-tát dạy học viên mãn đến như vậy, thành công đến như vậy, không gì khác hơn là chính các ngài làm trước sau đó mới dạy người, làm không được nhất định không nói, cái đã nói thì từng câu từng chữ ngài đều có thể làm đến được viên mãn, cho nên các ngài đã biểu diễn, các ngài đã nói là lời thật! Đó là chúng ta phải ghi nhớ, phải mỗi giờ mỗi phút nghĩ đến học tập với Phật Bồ-tát.

Bắt đầu học tập từ đâu vậy? Vừa rồi mới nói, chúng ta là phàm phu, chúng ta là phàm phu nghiệp chướng rất nặng, chính mình phải tự có sự nhận biết, chính mình phải thừa nhận, thì bạn mới có thể có tiến bộ, mới có thể nâng cao lên. Chính mình cả đời lỗi lầm nhưng chính mình không biết thì bạn từ đâu mà sửa lỗi? Cho nên biết được lỗi lầm của chính mình chính là nhìn thấu, thay đổi tự làm mới chính là buông bỏ. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc chúng ta trước đây dạy bảo chúng ta, tổ sư đại đức ở trong nhà Phật dẫn dắt chúng ta, phải bắt đầu làm từ đâu? Từ “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”, làm từ ngay chỗ này, hiếu thân tôn sư. Đó là hai đại ân nhân ngay trong đời này của chúng ta. Thân của chúng ta có được từ cha mẹ, ân dưỡng dục của cha mẹ; trí tuệ của ta có được từ thầy giáo, thầy giáo cho ta pháp thân huệ mạng của chúng ta, đó là ân đức của thầy giáo. Con người không thể quên gốc, chứng được A La Hán, chứng được Bồ-tát, hay thành Phật rồi đều không quên gốc. Các ngài làm cho chúng ta xem.

Thứ ba, hai điều phía trước chúng ta thực tiễn ngay trong cuộc sống, thực tiễn ngay trong công việc, thực tiễn ngay trong đối nhân xử thế tiếp vật, phải dùng thái độ ra sao? Việc này rất quan trọng. Trước tiên, từ nơi thái độ mà nói là “nhu hoà”. Nhu là ôn nhu, hoà là hoà thuận, đối nhân xử thế tiếp vật mỗi niệm đều không quên nhu hoà. Nhu hoà là biểu hiện bên ngoài, nội tâm thì “chất trực”. Chất trực chính là chân thành. Nội tâm là tâm chân thành, bên ngoài là tướng nhu hoà, thì bạn mới có thể phổ độ chúng sanh, bạn mới có thể nhận được yêu thương của chúng sanh, tôn trọng của chúng sanh. Vì sao phải như vậy? Chúng sanh có thể nghe lời giáo huấn của bạn, có thể tiếp nhận, có thể y giáo phụng hành, đạo lý chính ngay chỗ này. Đó là chúng ta tỉ mỉ mà quan sát từ Phật Bồ-tát, từ tổ sư đại đức, các ngài đã làm được. Ngày nay chúng ta cho dù đã có tâm thiện, muốn hoằng pháp lợi sanh, muốn giúp người khác quay đầu là bờ, tâm của chúng ta có chân thành, thế nhưng thái độ lời nói chưa làm được nhu hoà, làm cho người khác nghe thấy rồi sanh ra phản cảm, không thể tiếp nhận bạn, vậy thì bạn hoàn toàn thất bại. Cho nên tâm chân thành dùng nhu hoà để biểu hiện, đó mới thật là chân thành, không mang tập khí. Nội tâm rất chân thành, bên ngoài không đủ nhu hoà, thì bạn vẫn còn mang theo tập khí ác, cống cao ngã mạn, mang theo những tập khí này. Đó chính là nguyên nhân bạn đang hoằng pháp lợi sanh, hoặc giả là hộ trì chánh pháp không thể so được với các tổ sư đại đức ngày trước.

Sau cùng là chịu khổ thay chúng sanh. Nhất định phải phát cái tâm này, cái tâm này chính là động lực hành Bồ-tát đạo. Vì sao các ngài liều mạng đến như vậy để làm? Xem thấy chúng sanh khổ. Hiện tại người thế gian này vì sao mỗi ngày liều mạng đi làm, ngày đêm không nghỉ? Vì để kiếm tiền, cho nên kiếm tiền là điểm chính làm động lực cho họ. Nhưng Phật Bồ-tát không cần tiền, danh vọng lợi dưỡng cũng không cần, các ngài làm việc rất mạnh mẽ là dựa vào cái gì? Dựa vào tâm từ bi, tâm từ bi là động lực, cho nên đó là bốn đức. Bốn đức này là trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ, hiện tại chúng ta đánh mất đi rồi. Vì sao mất đi vậy? Mê rồi! Mê mất tự tánh nên bốn đức này không còn, hoàn toàn biến chất. Nương bốn đức mới “nhập ngũ chỉ”.

Ngũ chỉ lục quán phía sau là nói hành động, nói tu hành. “Chỉ” chính là buông bỏ, “quán” chính là nhìn thấu. Khi mới học thì nhất định phải “chỉ” trước, buông bỏ trước sau đó mới có thể nhìn thấu. Thế nhưng đối với sơ học, đây gọi là phương tiện đơn giản nhất, các vị phải nên biết kinh này.  Phật ở trong hội Hoa Nghiêm nói với hàng pháp thân Bồ-tát “tiên chỉ hậu quán”. Thế nhưng Bồ-tát tiếp dẫn chúng sanh, phương tiện đơn giản nhất là “quán” trước, chính là nhìn thấu trước, sau đó bạn mới chịu buông bỏ. Hiện tại chúng ta vì sao không thể buông bỏ được? Chưa nhìn thấu, cho nên chưa thể buông bỏ. Nếu như thật đã nhìn thấu thì không cần người khác khuyên bạn, bạn tự nhiên liền sẽ buông bỏ. Cho nên ở trong điều này, cái ý nghĩa này là căn cứ vào bốn đức mà phía trước đã nói.

Bốn đức là thật có, không phải không có, đích thực biểu hiện ngay trong cuộc sống, biểu hiện ngay trong khi làm việc, biểu hiện ngay trong đối nhân xử thế tiếp vật. Thế nhưng Bồ-tát biết được, trên sự có trên lý thì không có, tướng có tánh không, cho nên trong kinh điển thường nói “đương tướng tức không, tướng tận tâm trừng”. Ý nghĩa của “tướng tận” là gì vậy? Hết chấp tướng rồi, không còn chấp tướng nữa, tâm của bạn liền định lại. Tâm định lại rồi bạn mới có thể tu chỉ, tâm không định thì bạn không thể chỉ. Chỉ là định. Cho nên tu hành Phật pháp, không luận là tu pháp môn nào, gọi là tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, bạn phải biết đều là tu định. Cho nên thiền định là tên chung, vạn nhất không nên hiểu lầm là chỉ có Thiền tông mới tu thiền định, vậy thì bạn sai rồi, chỉ cần là Phật pháp đều là tu thiền định. Phương pháp tu thiền định không giống nhau. Tám vạn bốn ngàn pháp môn (pháp là phương pháp, môn là lối đi), tám vạn bốn ngàn loại phương pháp khác nhau, thảy đều tu thiền định. Rời khỏi thiền định thì không phải Phật pháp. Thiền chính là nhìn thấu, thiền chính là quán, định chính là chỉ, cho nên hai chữ thiền định này tách ra thì chính là chỉ quán, cho nên chỉ quán cũng gọi là thiền định, thiền định cũng gọi là chỉ quán. Nếu dùng danh từ thông thường hiện tại của chúng ta, đó là năm xưa Đại sư Chương Gia đã truyền cho tôi, vào lúc đó tôi vừa mới học Phật, học Phật vẫn chưa đến hai tháng, nếu như ngài giảng cho tôi nghe chỉ quán, giảng thiền định thì tôi liền mê hoặc; ngài rất trí tuệ, rất cao minh, ngài giảng “nhìn thấu, buông bỏ”, tôi có thể nghe hiểu được; ngài giảng chỉ quán, giảng thiền định thì tôi nghe không hiểu. Đổi một danh từ tiếp dẫn sơ cơ thì thật là thỏa đáng, khéo ở quán cơ, lời đổi một chút thì được.

Bồ-tát biết được“phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Trên kinh Kim Cang, mọi người đã đọc rất quen thuộc là “nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh”. Hữu vi chính là có sanh có diệt. Các vị thử nghĩ xem, có pháp nào mà không sanh diệt? Động vật có sanh lão bệnh tử, có sanh có diệt; thực vật có sanh trụ dị diệt; khoáng vật như tinh cầu, sơn hà đại địa có thành trụ hoại không. Hay nói cách khác, tất cả hiện tượng vật chất, tất cả hiện tượng tinh thần, đều là có sanh diệt, đó chính là thuộc về pháp hữu vi.

Pháp vô vi, trong Phật pháp quy nạp nó lại thành sáu loại. Trong sáu loại, năm loại trước không phải thật là pháp vô vi, là tương tợ vô vi, dường như là vô vi nhưng không phải thật vô vi. Thật là vô vi chỉ có một “chân như vô vi”. Cái gì là chân như vô vi vậy? Chính là Hiển Nhất Thể mà ngay chỗ này chúng ta nói đến, cái nhất thể đó là chân như vô vi. “Tự tánh thanh tịnh viên minh thể”, đó là chân như vô vi, nó thật là vô vi, vì sao vậy? Trong cái thể này bạn thấy nó là thanh tịnh, nó là viên mãn. Viên mãn là nói hiện tượng vật chất không hề thiếu kém thứ gì. Minh là nói trí tuệ, trí tuệ viên mãn. Trong cái viên này nói đức tướng viên mãn, tướng hảo viên mãn, cũng chính là trên kinh Hoa Nghiêm Phật đã nói cho chúng ta nghe là “tất cả chúng sanh đều có trí tuệ đức tướng Như Lai”. Khi đại sư Huệ Năng khai ngộ, đã nói cho chúng ta nghe năm câu hai mươi chữ. Trong hai mươi chữ này đem rút gọn lại thành một câu, Huệ Năng giảng hai mươi chữ, hai mươi chữ cùng với chỗ này hợp lại xem, ý nghĩa sẽ rất rõ ràng. Đại sư Huệ Năng kiến tánh, câu thứ nhất ngài nói “nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”, thanh tịnh; “nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt”; “nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ”, đây là ý nghĩa viên mãn; “nào ngờ tự tánh vốn không dao động”, vốn không dao động chính là tự tánh vốn định, tự tánh của bạn trước giờ là định, chưa từng bị dao động. Động là gì? Vọng tâm, động niệm, không phải tự tánh, tự tánh là chân tâm, đó là vọng tâm đang động, chân tâm trước giờ chưa từng bị động. Câu sau cùng “nào ngờ tự tánh năng sanh vạn pháp”, chính là mười pháp giới Y Chánh trang nghiêm là do tự tánh biến hiện ra. Vì sao tự tánh có thể biến hiện?

Chúng ta đọc được trên kinh Hoa Nghiêm có ba loại duyên, trong đại thừa giáo Phật thường giảng bốn pháp duyên sanh, Phật có phương tiện nói, có chân thật nói. Nói chân thật thì người sơ học chúng ta không dễ gì hiểu được, thế nhưng nhờ phương tiện giúp chúng ta vào cửa. Sau khi vào cửa rồi có thể bỏ phương tiện đi, thì liền có thể vào được cảnh giới. Như Thích Ca Mâu Ni Phật làm một tấm gương cho chúng ta, Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện vào hiện tại gọi là phần tử tri thức, phần tử tri thức hiếu học, ngài liền thị hiện ra một tấm gương hiếu học. Bạn thấy, vì hiếu học nên 19 tuổi đã xả bỏ vinh hoa phú quý, xả bỏ vương vị để đi tham học, tìm thầy học đạo, đã học mười hai năm, học đến 30 tuổi. Chúng ta có thể tưởng tượng ra được, người có thân phận đặc biệt như vậy, là vương tử, thông minh hiếu học, thân phận như vậy, nhân phẩm như vậy, lão sư nào mà không thích loại học trò này? Trong mười hai năm, bao gồm tất cả tôn giáo Ấn Độ, bao gồm tất cả học phái ngài đều học qua, đến sau cùng 30 tuổi không còn nơi nào để học. Thế nhưng tuy là học mười hai năm và không còn nơi nào để học, nhưng vấn đề sau cùng vẫn chưa giải quyết, mặc dù đối với sáu cõi quá tường tận. Làm sao tường tận? Vào thời đại Thế Tôn ra đời đó, bao gồm tất cả tôn giáo học thuật Ấn Độ đều là rất xem trọng đối với thiền định, tất cả đều tu thiền định. Trên kinh Phật thường nói “tứ thiền bát định”, đó không phải là Phật giáo, tứ thiền bát định là tôn giáo Ấn Độ xưa đã tu, trong giới học thuật đã tu. Có thể đạt đến được tứ thiền bát định thì không gian duy thứ trong sáu cõi hoàn toàn đột phá, cũng chính là nói bạn đều có thể xem thấy, bạn đều có thể nghe thấy, bạn đều có thể tiếp xúc được.

Vậy thì chúng ta biết được, Thích Ca Mâu Ni Phật đương nhiên quá tường tận đối với sáu cõi này rồi, thế nhưng trong đây khẳng định chí ít có ba vấn đề. Thứ nhất, sáu cõi từ do đâu mà có? Thứ hai, vì sao có sáu cõi? Thứ ba, ngoài sáu cõi ra còn có  thế giới khác hay không? Ba vấn đề này đích thực giới tôn giáo không có người có thể giải đáp, giới học thuật cũng không có người có thể giải đáp, Thích Ca Mâu Ni Phật đành phải đến dưới cội Bồ Đề. Vào lúc đó không gọi là cây Bồ Đề, gọi là cây Tất Bát La, về sau ngài ở nơi đó khai ngộ nên cội cây này chúng ta liền gọi là cây Bồ Đề. Bồ Đề là ý nghĩa của giác ngộ, ngài ngồi dưới cội cây này giác ngộ. Vì sao giác ngộ? Ngài đem những gì đã học trong mười hai năm thảy đều buông bỏ, cũng buông bỏ luôn tứ thiền bát định, vào thiền định tầng thứ sâu hơn, vậy thì liền khai ngộ, nên gọi là đêm nhìn sao sáng đại triệt đại ngộ là minh tâm kiến tánh, thế là giải quyết được những vấn đề này, cũng chính là nơi đây nói nhất thể, nhị dụng, tam châu biến, tứ đức, thảy đều thấu suốt, chúng ta gọi là thành Phật. Thật buông bỏ, những gì đã học trong mười hai năm thảy đều buông bỏ, cái đã tu cũng buông bỏ. Sau khi buông bỏ mới thật sự vào được chân thật. Việc này chúng ta có thể tin tưởng.

Đại sư Huệ Năng đã thị hiện là một phàm phu thông thường, không có đi học, ngài không phải phần tử tri thức, ngài không biết chữ, cho dù học Phật rồi. Bạn xem trong Đàn Kinh thì biết, phẩm đầu tiên trong Đàn Kinh là truyện ký của ngài, lịch sử của ngài. Ngài chưa từng đi học qua  ngày nào, chưa từng nghe qua một buổi giảng kinh. Đạo tràng của Ngũ Tổ Hoàng Mai là đạo tràng Thiền tông, ngài chưa bước vào Thiền đường ngày nào. Ngài ở Hoàng Mai tám tháng, Ngũ Tổ phái ngài đến làm công quả ở trong nhà bếp, bởi vì ngài là tiều phu đốn củi, ở trong nhà bếp bửa củi giã gạo, ngài chỉ làm những việc này hết tám tháng. Sau cùng lão Hoà Thượng đem y bát truyền cho ngài, ngài trở thành nhất đại tổ sư, dựa vào cái gì? Dựa vào buông bỏ. Ngũ Tổ vào nửa đêm canh ba bảo ngài đến, trong phòng phương trượng giảng kinh Kim Cang cho ngài nghe. Chúng ta có thể suy nghĩ xem có quyển kinh hay không? Không có! Ngài không biết chữ, có quyển kinh cũng không dùng, ngài không biết đọc mà, cho nên Ngũ Tổ giảng cho ngài nghe là giảng đại ý của kinh Kim Cang, giảng đến “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì ngài liền buông bỏ hết vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Khi vừa buông bỏ thì liền triệt ngộ. Cái cảnh giới mà ngài ngộ cùng với sự khai ngộ của Thích Ca Mâu Ni Phật ở dưới cội Bồ Đề, cảnh giới đó là như nhau, là bình đẳng. Sau khi ngộ rồi thì không có thứ nào không thông, một ngộ tất cả ngộ, một thông tất cả thông. Tất cả kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong 49 năm, bạn chỉ đọc ngài nghe, ngài liền có thể giảng cho bạn nghe. Người đọc chưa khai ngộ, người nghe đọc thì khai ngộ. Việc này nói rõ cho chúng ta một sự việc, vọng tận hoàn nguyên không quan hệ gì với đọc kinh học giáo. Nghiên kinh học giáo nhưng vẫn phải đem kinh giáo buông bỏ thì bạn mới có thể ngộ nhập. Nếu bạn không buông bỏ, vậy thì biến thành sở tri chướng. Chướng ngại có hai loại, một loại là phiền não chướng, một loại là sở tri chướng. Buông bỏ thì đúng, buông bỏ những thứ mà bạn đã học. Những thứ đó mà bạn không buông bỏ thì chướng ngại bạn ngộ nhập.

Vậy ngày nay chúng ta có cần phải học hay không? Ngày ngày đang học. Tôi học 58 năm, sắp gần 60 năm, mỗi ngày đang học. Chúng ta đang học là một loại pháp phương tiện, vì sao vậy? Không học kinh thì sẽ khởi vọng tưởng, thì sẽ nghĩ tưởng xằng bậy, phiền não chướng hiện tiền. Đem tinh thần thời gian tập trung lại để học kinh giáo thì vọng tưởng liền ít, dùng phương pháp này để tiêu trừ phiền não chướng. Sau khi trừ được phiền não chướng rồi thì tâm được thanh tịnh, lại đem sở tri chướng buông bỏ, vậy mới có thể ngộ nhập. Cho nên đây là một loại phương pháp, chính là một loại phương pháp tu thiền định. Đọc kinh cũng là thiền định, giảng kinh cũng là thiền định, nghe kinh cũng là thiền định, niệm Phật cũng là thiền định, không có thứ nào không là thiền định. Chỉ cần phương pháp này có thể giúp cho chúng ta phiền não nhẹ, trí tuệ thêm lớn, đó gọi là thiền định, đó gọi là chỉ quán. Những đạo lý này chúng ta đều phải đem nó làm cho tường tận, làm cho thấu đáo.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật nói với chúng ta thật tướng của các pháp. Tất cả pháp không ngoài hai loại lớn này, một loại là hiện tượng vật chất, một loại là hiện tượng tinh thần. Hai loại lớn này đều là huyễn tướng. Tướng có tánh không, sự có lý không, cho nên cái tướng này là huyễn tướng. Trên kinh Phật thường nói “mộng huyễn bào ảnh”, dùng cái này để làm thí dụ. Bạn không nên cho rằng nó là thật, cho rằng nó là thật thì bạn đã sai rồi, không phải là thật. Không phải là thật thì bạn còn chấp trước nó để làm gì? Tự nhiên liền buông bỏ. Bạn có thể dùng nó để nâng cao cảnh giới của chính mình, dùng nó để giáo hoá chúng sanh, bạn không nên chấp trước nó, bạn không nên phân biệt nó. Tốt nhất là sáu căn tiếp xúc với sáu trần chân thật làm đến được không khởi tâm, không động niệm, vậy thì bạn hoàn toàn vào được cảnh giới Hoa Nghiêm. Cho nên trong ngũ chỉ, thứ nhất là “chiếu pháp thanh hư ly duyên chỉ”.

Thứ nhất trong ngũ chỉ, “chiếu pháp thanh hư ly duyên chỉ”.

“Chiếu”, có rất nhiều đồng tu đều đã đọc rất quen thuộc Tâm Kinh, câu thứ nhất chính là giới thiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, “Quán Tự Tại” chính là Quán Thế Âm, “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Ngũ uẩn là gì? Sắc thọ tưởng hành thức. Sắc là vật chất, thọ tưởng hành thức là tinh thần. Cũng chính là nói, hiện tượng vật chất cùng hiện tượng tinh thần đều không thể được. Cái hiện tượng này từ do đâu mà ra? Đó là một vấn đề lớn, mãi đến hiện tại đều không có người có thể giải đáp thỏa đáng.

Khoa học gia hiện tại đều thường hay nói, khởi nguồn của vũ trụ là do vụ nổ lớn. Họ làm sao mà có cách nhìn này? Họ quan sát qua kính viễn vọng thiên văn thấy được một hiện tượng, có rất nhiều tinh cầu ở ngoài thái không đều có tốc độ rất cao đi ngược lại phương hướng với chúng ta, dường như là nơi đây chúng ta là điểm trung tâm của vụ nổ, thảy đều bắn ra bốn phía với tốc độ rất cao. Hiện tượng này rất nhiều nhà thiên văn học đều xem thấy, cho nên mọi người tưởng tượng phải là một vụ nổ lớn, thế nhưng có phải thật là cái hiện tượng này không? Không có người nào dám khẳng định, chỉ là tạm thời lấy đây làm nền tảng. Cũng có khoa học gia cho rằng, tất cả vạn vật trên địa cầu là do tiến hoá mà có, con người là từ loài vượn tiến hoá lên. Thế nhưng lại có vấn đề, vậy hiện tại vì sao vẫn còn có vượn? Lẽ nào loại này tiến hoá thành người, loại kia thì vẫn còn giữ theo dáng cũ? Vậy thì nói không thông.

Phật pháp nói với chúng ta là không có tiến hoá cũng không có vụ nổ. Thế thì hiện tượng vụ nổ làm sao giải thích? Chúng ta ở ngay trong đại thừa giáo có thể tìm được lý luận căn cứ giải thích. Trong đại thừa giáo Phật thường nói “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, lời nói này có đạo lý. Kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta, y chánh trang nghiêm là tâm hiện thức biến, do tâm hiện ra. Tâm là tâm thanh tịnh. Năng hiện, vì sao có thể hiện? Đại sư Huệ Năng nói rất hay, tâm thanh tịnh vốn tự đầy đủ. Tuy là đầy đủ nhưng nó không hiện. Không hiện ở Phật pháp gọi là ẩn, bạn không thể nói nó không có. Tự tánh không phải vật chất, cũng không phải tinh thần, bạn không thể nói nó có, bạn cũng không thể nói nó không có vật chất, không có tinh thần. Sau cùng nói “năng sanh vạn pháp”, nó có thể hiện vật chất, hiện tinh thần. Tuy hiện vật chất, tuy hiện tinh thần, bạn không thể nói nó có, đương thể tức không, không thể có được. Cái lý này rất sâu.

Chúng ta thường hay thảo luận đến vấn đề này, tôi dùng màn hình tivi để làm thí dụ. Màn hình tivi cũng như tâm thanh tịnh, giống như là tự tánh, năng sanh vạn pháp là tướng hiện ở trong màn hình. Màn hình ti vi này của chúng ta có thể nhận được mấy chục kênh đài, hơn một trăm kênh đài. Khi chúng ta chưa mở kênh đài ra, bạn không thể nói bên trong không có hiện tướng. Kênh đài vừa mở thì hình tượng liền xuất hiện, nhưng bạn không thể nói nó có hình tướng. Màn hình đích thực không bị nhiễm, bạn tắt màn hình thì nó không còn, mở ra thì có. Chúng ta đem màn hình thí dụ cho tự tánh, chính là tự tánh thanh tịnh viên minh thể, nó có thể hiện tướng. Cho dù là hiện tướng cũng tốt, không hiện tướng cũng tốt, tóm lại mà nói đều không thể được. Nếu bạn có thể thấy như vậy thì bạn mới không chấp trước, bạn mới biết được chấp trước là sai lầm.

Chấp trước mang đến thống khổ. Những thống khổ nào? Tất cả phiền não đều là từ chấp trước mà sanh ra. Sau khi buông bỏ chấp trước thì phiền não trong sáu cõi không còn, chúng ta thông thường gọi là năm dục thất tình, thứ này đều không có. Chỉ cần bạn đoạn được chấp trước thì thứ này không có, thì bạn được đại tự tại. Phiền não tập khí chúng ta rất nặng, buông bỏ phải bắt đầu từ đâu? Chính từ ngay đây mà làm. Phương tiện tối sơ, việc này phải nên biết. Năm đầu lão sư dạy tôi phải bắt tay vào từ xả những vật ngoài thân, bố thí, trước từ vật ngoài thân học tập thí tài. Chúng ta có tài vật, xem thấy người khác thiếu kém, họ vô cùng cần thiết, chúng ta có thể bố thí, có thể xả, hơn nữa xả thì phía sau liền có báo. Cái báo này là gì? Gọi là đắc, xả đắc. Xả đắc là danh từ của Phật giáo, hiện tại ở trong xã hội được người vận dụng phổ biến. Bạn xả tài thì được tài, càng xả càng nhiều. Người phương đông không ít người tin tưởng vận mạng, bạn tìm một người đoán mạng xem tướng để xem thử là ta có thể phát tài không. Đoán mạng đích thực chỉ xem được trong tài khố của con người bạn có tiền hay không. Trong tài khố có tiền, thì không luận bạn kinh doanh thứ gì, mua bán thứ gì cũng đều sẽ kiếm ra tiền. Nếu như trong tài khố không có tiền, bạn thấy người khác buôn bán việc đó kiếm ra tiền, bạn đến học với họ làm y như họ thì bạn vẫn lỗ vốn, thì bạn vẫn kiếm không ra tiền. Vì sao vậy? Trong tài khố không có là cái nhân, ta làm các ngành các nghề khác đó là duyên, nhân thêm vào duyên thì quả báo liền hiện tiền. Cho nên tài phú của mỗi người không như nhau, trong đời quá khứ tu nhân không giống nhau thì đời này làm sao có được quả (250)

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


5 − = một

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: