Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (Tập 40)

Xin chào các vị pháp sư, các vị đồng tu, xin mời ngồi!

Mời xem  Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hòan Nguyên Quán, kinh văn tờ thứ sáu hàng thứ bảy. Chúng ta đọc từ chỗ nhị giả. Kinh văn: “”nhị giả, nhất trần xuất sanh vô tận biến, vị trần vô tự thể, khởi tất y chân, chân như ký cụ, hằng sa chúng đức, y chân khởi dụng, diệc phục vạn sai””. Buổi giảng trước chúng ta học đến chỗ này, hôm nay chúng ta tiếp theo phía sau, đại sư vận dụng một đoạn văn trong Khởi Tín Luận. Khởi Tín Luận nói rằng: “”Chân như giả, tự thể hữu thường-lạc-ngã-tịnh nghĩa cố, thanh lương bất biến tự tại nghĩa cố, cụ túc như thị, quá hằng sa công đức, nãi chí vô hữu sở thiểu nghĩa””.

Đoạn này là trong Khởi Tín Luận đã nói, đây là nói khởi dụng nhất định có ba loại châu biến. Tự tánh là nhất chân. Trong triết học gọi là bản thể của vũ trụ nhân sanh, trong Phật pháp gọi là tự tánh, “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”. Cái tự thể này nó không phải là vật chất, cũng không phải là tinh thần, nó là vĩnh hằng. Phía trước đã báo cáo tỉ mỉ qua với các vị, vào triều nhà Đường Trung Quốc, Lục tổ Thiền tông đại sư Huệ Năng minh tâm kiến tánh, tánh là như thế nào vậy? Cái kiến tánh này chính là thấy được “Tự Tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể”, ngài nêu ra báo cáo với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, báo cáo nói được rất đơn giản, đích thực là có thể nói ra được tánh thể, ngài là chân thật thấy tánh, không phải là giả. Câu đầu tiên ngài nói “”nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh””. Các vị phải nên biết, đây là bản thể của chúng ta, ta từ nơi nào đến? Ta tự trong “Tự Tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể” mà có, trong Thiền tông gọi là “”mặt mũi trước khi cha mẹ chưa sanh ra””. Cái “Tự Tánh Thanh Tịnh Viên Minh Thể”” này chính là bổn lai diện mục của chúng ta, bạn có thể chứng được, đó gọi là viên mãn thành Phật, thì thành Phật rồi, cho nên Phật Thích Ca trong kinh Đại thừa thường hay nói với chúng ta “”tất cả chúng sanh vốn dĩ là Phật””. Lời nói này là thật, không phải giả. Chúng ta học cái quyển này là trước tác của đại sư Hiền Thủ, ngài Hiền Thủ là lão sư của Thanh Lương, bạn thấy trong lời tựa ngài liền nói “”Vọng Tận Hoàn Nguyên””. Chúng ta ở trong sáu cõi là vọng, không chỉ sáu cõi mà ở mười pháp giới cũng là vọng, vọng nếu là tận rồi thì hoàn nguyên, hoàn đến chỗ nào? Hoàn đến “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”, vậy thì không việc gì! Trong Tịnh Độ tông nói bốn độ. Cao nhất là cõi Thường Tịch Quang, Thường Tịch Quang chính là “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”, liền về đến Thường Tịch Quang. Thứ hai là cõi Thật Báo Trang Nghiêm, đây là có hình tướng, có thế giới, có hình tướng, chính là có hiện tượng tinh thần, có hiện tượng vật chất. Thường Tịch Quang không có hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật chất thì càng không, đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn, đây là thuần chân vô vọng, nó là “”bổn lai thanh tịnh””, chắc chắn không có ô nhiễm. Câu nói thứ hai, đại sư Huệ Năng nói “”vốn không sanh diệt””, hay nói cách khác, bao gồm tất cả hiện tượng đều có sanh diệt, chỉ riêng “Thanh tịnh Viên Minh Thể” không có sanh diệt, nó không sanh diệt nó bất sanh bất diệt. Câu thứ ba là “”vốn tự đầy đủ””. Câu nói này rất quan trọng, tuy nhiên không có hiện tượng tinh thần, không có hiện tượng vật chất, nó năng hiện, cho nên bạn không thể nói nó không có, nó hiện ra thì cũng không thể nói nó có, cái đạo lý này rất sâu. Câu thứ tư là “”vốn không dao động””, câu thứ năm là “”năng sanh vạn pháp””, vậy thì rõ hết rồi. Đại sư Huệ Năng khai ngộ nói ra, Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa ở đời cũng là trước khai ngộ, cho nên nói ban đêm nhìn trăng sáng, ở dưới cội Bồ Đề đại triệt đại ngộ, ngài khai ngộ cũng đem cảnh giới khai ngộ nói ra, ngài nói được rất tường tận chính là một bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.

Các vị phải biết, trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là nói cái gì? Chính là Đại Sư Huệ Năng đã nói mười hai chữ: vốn tự thanh tịnh, vốn không sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn không dao động, năng sanh vạn pháp, nói ra những việc này, cho nên Thế Tôn giảng nói rất tường tận. Nếu như chúng ta có thể khế nhập được cảnh giới Hoa Nghiêm, chúng ta học bài khóa này chính là “”Tu Hoa Nghiệm Áo Chỉ””, chính là giúp chúng ta phải vào được cảnh giới Hoa Nghiêm, đây là cảnh giới cao nhất, không gì có thể cao hơn. Phải thế nào mới có thể khế nhập? Vọng phải tận. Ngày nay ngay trong cảm quan chúng ta, thế giới này không phải là thật, mà là giả, cho nên cái đoạn lớn thứ hai là nói khởi nhị dụng, khởi lên hai loại tác dụng, từ thể khởi dụng. Thể không cách gì nói, dụng thì có cách nói, hai loại tác dụng. Loại thứ nhất là thế giới xuất hiện, vũ trụ xuất hiện, vũ trụ vì sao mà có. Loại thứ hai là ta xuất hiện, sinh mạng xuất hiện, cái sinh mạng này không phải nói người khác mà là nói ta. Vũ trụ, ta và tất cả vạn vật có thể nói là đồng thời xuất hiện, tuy nhiên có trước sau nhưng tốc độ quá nhanh, chúng ta không có cách gì có thể thể hội được. Ngày nay nói “”nhất trần xuất sanh vô tận””. “”Trần”” là y báo. Chỗ này nêu ra thí dụ, ba loại châu biến đều nêu một trần, ở trên thân chính mình mà nói, trên đại kinh Phật thường dùng đoạn lông, lông tơ của chúng ta, đầu đoạn lông, hoặc giả là lổ chân lông đều là như vậy. Trong y báo cái nhỏ nhất là một trần, một trần này chúng ta rất không dễ gì thể hội, chúng ta nói một trần, một vi trần, kỳ thật nó nhỏ hơn vi trần. Vi trần rất nhỏ, mắt thịt chúng ta không thể nhìn thấy, dùng danh từ khoa học hiện nay là nguyên tử, điện tử, hạt tử, hạt quắc, bởi vì ở trên kinh Phật nói với chúng ta vi trần, một hạt vi trần này, người nào có thể thấy được? Thiên nhãn của A-la-hán có thể thấy được, thiên nhãn của thiên nhân trời dục giới, trời sắc giới, trời vô sắc giới đều không được, đều không thể nhìn thấy, thiên nhãn của A-la-hán có thể nhìn thấy. Đây không phải là nhỏ nhất, vi trần vẫn có thể phân, lại phân nó thành bảy phần, một phần bảy, danh từ Phật học gọi là Sắc Tụ Cực Vi, cái này thì A-la-hán không thể nhìn thấy. Sắc Tụ Cực Vi vẫn có thể phân, lại phân một phần bảy thì gọi là Cực Vi Chi Vi, đây là loại vi trần nhỏ nhất, thì không còn phân được nữa, phân nữa thì không còn gì, cho nên cũng gọi là Lân Hư Trần, cùng làm bạn với hư không, không thể phân nữa, đây là trong Phật kinh nói cái nhỏ nhất. Ngày nay khoa học phát hiện ra hạt tử, hạt cơ bản, hạt quắc, có phải là Cực Vi Chi Vi mà trên Phật kinh nói hay không? Chúng ta vẫn không thể biết, chỗ này rất khó nói.

Trên kinh Phật nói, tất cả hiện tượng vật chất có ba loại đặc tính. Loại thứ nhất chính là “”xuất sanh vô tận””, trong đó có tin tức của cả thảy vũ trụ, bạn đừng xem nó nhỏ, cái thứ này chân thật khó hiểu. Bạn xem chúng ta về trước, trước khi chưa phát minh ra điện tinh thể, chúng ta không cách gì tưởng tượng một cái thẻ từ rất nhỏ như vậy, trong đó có thể dung chứa rất nhiều dữ liệu. Hiện tại thẻ từ này chỉ lớn bằng đầu ngón tay út vậy thôi, bên trong có thể chứa hết bộ Đại Tạng Kinh, bên trong có thể hàm chứa tin tức của cả thế giới. Việc này về trước người ta không cách gì tưởng tượng, khoa học hiện tại làm được. Thế nhưng nếu khoa học so với trên kinh Hoa Nghiêm nói thì vẫn còn kém rất xa, vì sao vậy? Trên kinh Hoa Nghiêm nói một trần, một trần này phải biết, đây là vi trần của Cực Vi Chi Vi, vi trần này quá nhỏ, chúng ta luôn là không cách gì tưởng tượng, nó hàm dung trong đó hết thảy tin tức tận hư không, khắp pháp giới, không sót một thứ nào, không chỉ bao gồm hiện tại mà bao gồm quá khứ, cũng bao gồm vị lai, việc này chúng ta làm sao có thể tưởng tượng? Những đạo lý này khoa học gia hiện tại cũng rất thông minh, chúng ta cũng không thể không bội phục, họ phát hiện ra được một hiện tượng gọi là toàn tức, họ dùng tấm hình để hiển thị, cái gì gọi là toàn tức? Họ dùng hai ánh sáng thúc lôi xạ chụp lại tấm hình, sau khi chụp được rồi chúng ta không thể nhìn thấy ra được, xem thấy trên tấm hình từng kẻ sọc vậy thôi, thế nhưng ở dưới bức lôi xạ thì hình chụp trong đó liền hiện ra. Thí dụ một người, một thân người chúng ta, đem tấm hình này cắt làm hai hoặc cắt vụn ra, trong mỗi tấm hình người đều là hoàn chỉnh, cho dù bạn đem nó cắt thành mấy chục tấm, mấy trăm tấm, chỉ một mảnh nhỏ đó, bạn ở dưới lôi xạ chiếu qua thì vẫn là một tấm hình hoàn chỉnh, nên gọi là chụp hình toàn tức, chính là trong bộ phận có toàn tức. Cái đạo lý này cùng chỗ này nói thì rất tưởng tượng. Phật nói với chúng ta trong một hạt vi trần có tin tức của cả thảy tận hư không khắp pháp giới; ở trên mỗi một sợi lông đoạn tóc trên thân chúng ta, mỗi một lỗ chân lông, mỗi một tế bào, thậm chí tế bào chúng ta lại phân ra, lại phân ra phân thành phân tử, phân thành nguyên tử, phân thành điện tử, phân thành hạt tử, có nhỏ hơn đều là bao hàm cả thảy tin tức vũ trụ ở trong đó. Đây chính là Đại Sư Huệ Năng đã nói ra ở trong câu thứ ba, “”nào ngờ tự tánh vốn sẵn đầy đủ””, nó không hề kém khuyết thứ nào. Trong tình huống nào thì nó khởi tác dụng? Sóng động. Trong Phật pháp nói “”một niệm bất giác mà khởi vô minh””. Vô minh là gì? Vô minh chính là hiện tại gọi là sóng động, tại vì sao có cái sóng động này? Một niệm bất giác. Tại vì sao có một niệm bất giác? Chỗ này không có lý do, cái sóng động thứ nhất không có lý do, cái sóng động thứ hai có lý do, cái sóng động thứ nhất là nhân của nó, cái sóng động thứ hai là quả, thế nhưng cái sóng động ban đầu là không có lý do, cho nên nó không phải là thật, gọi là vọng. Loại hiện tượng sóng động này ở trong Phật pháp gọi là vọng tưởng, vọng thì làm gì có nhân? Có nhân thì biến thành thật rồi, nó không phải là thật, cho nên ở trên đại kinh Phật thường nói “”phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng””, vì sao vậy? Hiện tượng là sóng động sanh ra. Cái hiện tượng này được khoa học gia chứng thật, giữa khoảng vũ trụ bao gồm tất cả hiện tượng đều là sóng động sanh ra. Hiện tượng sóng động rất phức tạp, vì sao phức tạp vậy? Chúng ta rất không dễ gì thể hội được, tại vì sao nó có thể phức tạp đến như vậy? Chúng ta liền nghĩ đến lúc nhỏ chơi ống vạn hoa, tôi ở đây có một ống vạn hoa. Nguyên lý chế tạo ống vạn hoa rất đơn giản, bên trong có ba miếng kính, xếp thành hình ba góc, bên trong để một số giấy vụn màu sắc khác nhau, bạn đem nó chuyển động, bên trong nó liền hiện ra đồ hình, rất là đẹp, bạn không ngừng chuyển động thì nó không ngừng thay đổi; chỉ là mấy tấm giấy vụn như vậy, đồ hình mà nó biến ra thì thiên biến vạn hóa, không thể tìm ra hai cái giống nhau. Tự tánh khởi dụng giống y như cái đạo lý này, bạn hiểu rõ rồi thì không nên nghĩ tưởng nó. Không nghĩ nó thì thảy đều thấu suốt, càng nghĩ càng trái, càng nghĩ càng sai, bạn không thấy được chân tướng. Không nghĩ thì chân tướng rõ ràng, chính ngay trước mặt bạn. Cho nên hiện tượng vật chất, hiện tượng tinh thần đều không phải là thật, việc này nhất định phải biết. Làm sao sanh khởi? Trong Duy Thức Luận đã nói rất rõ ràng (Duy Thức Luận có thể nói là Tâm Lý Học của trong Phật kinh, khoa học mũi nhọn trong Phật kinh), Tam tế tướng của A Lại Da, đây cấu thành A-lại-da.

A-lại-da là danh từ trong Phật học, dịch thành ý Trung văn gọi là tạng thức. Tạng là hàm tàng, thức thông thường chúng ta gọi là tri thức. Tác dụng tinh thần, tác dụng vật chất đều là từ nơi nó sanh ra. Làm sao mà sanh? Cái thứ nhất gọi là nghiệp tướng, nghiệp chính là động, một niệm bất giác, cái thứ nhất này sóng động khởi lên, sau khi khởi lên, trong tự tánh vốn sẵn đầy đủ, nó liền hiện tiền, liền hiện tướng. Hiện tướng là cái gì? Liền năng sanh vạn pháp, hiện tượng vũ trụ xuất hiện, hiện tượng tinh thần xuất hiện, ta liền xuất hiện. Chỗ này giống như nằm mộng vậy. Phật pháp dùng mộng để làm thí dụ rất nhiều, kinh đại tiểu thừa Phật thường nói “”mộng huyễn bào ảnh””. Các vị thử nghĩ xem, chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng, bạn nghĩ xem, có lần nào trong mộng mà không có mình, có lần nào nằm mộng mà không có mình hay không? Nếu như không có ta thì làm sao bạn biết mình nằm mộng? Thảy đều có ta. Hiện tượng vũ trụ đản sanh cũng là như vậy, một niệm bất giác thì mộng cảnh liền hiện, khẳng định ta liền xuất hiện, cho nên ta cùng vũ trụ, cùng thiên địa vạn vật đồng thời xuất hiện, không có trước sau. Khi xuất hiện vẫn là có thứ đệ, trước tiên là một niệm vọng động, lập tức hiện tượng tinh thần xuất hiện, ta xuất hiện, ta vừa xuất hiện thì liên đới theo vũ trụ xuất hiện, vạn pháp liền xuất hiện, cho nên trong A-lại-da-thức gọi là nghiệp tướng, kiến tướng, cảnh giới tướng. Cảnh giới tướng là vật chất, thế giới vật chất, kiến tướng cũng gọi chuyển tướng, chuyển biến, đó là hiện tượng tinh thần, cho nên “”vô minh bất giác sanh tam tế cảnh giới vi duyên trưởng lục thô””, càng biến càng nhiều, xuất sanh vô tận! Chúng ta phải nên nói là trước biến thành pháp giới nhất chân, chính là cõi Thật Báo Trang Nghiêm, chư Phật Như Lai sát độ, Tịnh Độ, trong đó không có ô nhiễm. Tại vì sao có thể thay đổi? Bởi vì nó động, nếu tâm không động thì cảnh giới liền không có, tâm động thì nó liền có, liền xuất hiện. Sau khi xuất hiện, từ trong vọng động lại biến hiện phân biệt. Vốn dĩ không có phân biệt, trong tự tánh không có phân biệt cũng không có vọng động, đại sư nói rất hay “”vốn không dao động””, nó vì sao có thể động? Cái động này là vọng, không phải là thật, là vọng động, cho nên nhà Phật gọi là vọng tưởng. Tưởng thì liền có tướng, bạn thấy văn tự của Trung Quốc, chữ “”tưởng””, cái gì gọi là tưởng? Trong tâm có tướng, đó chính là tưởng, trong lòng có tư, tư chính là phân biệt, ở trên là chữ điền, đường cắt ngang dọc là phân biệt, cho nên tư là phân biệt, tưởng là chấp trước. Cái thứ này xuất hiện, khi vừa xuất hiện thì pháp giới nhất chân liền không còn, pháp giới nhất chân liền biến thành mười pháp giới. Trong mười pháp giới chấp trước nghiêm trọng, mười pháp giới biến thành sáu cõi. Ngày nay chúng ta chính là luân lạc ở trong sáu cõi. Nếu như chúng ta đem chấp trước buông bỏ thì sáu cõi liền không thấy, sau khi chấp trước buông bỏ thì cái gì xuất hiện? Pháp giới bốn thánh xuất hiện. Pháp giới bốn thánh có phân biệt, nếu như buông bỏ phân biệt, không còn phân biệt, pháp giới bốn thánh không còn. Nếu có khởi tâm động niệm, khởi tâm động niệm đó là pháp giới nhất chân, khởi tâm động niệm không còn thì cái pháp giới nhất chân đó chính là cõi Thật Báo Trang Nghiêm cũng không còn, liền quay về “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”, chính là Thường Tịch Quang, gọi là “”Vọng Tận Hoàn Nguyên””. Cho nên trong Phật pháp, những kinh giáo này chính là triết học cao đẳng mà từ trước tiên sinh Phương Đông Mỹ nói với tôi. Thầy nói triết học Phật kinh là đỉnh cao nhất của triết học trên thế giới. Trên lý là triết học, từ trên sự mà nói là khoa học, đích thực ngày nay khoa học triết học trên thế giới này không cách gì giải quyết được vấn đề, nhưng ở trên kinh Hoa Nghiêm, trong Phật kinh đều có lý giải. Ngày nay khoa học gia, triết học gia hàng đầu trên thế giới này, những luận văn phát biểu, dùng Phật kinh để đối chiếu thì trên Phật kinh đều có, thế nhưng Phật kinh giảng được tường tận hơn so với họ, Phật kinh đem sở dĩ nhiên thảy đều nói ra hết, phát hiện của họ là thấy được đương nhiên, thế nhưng không biết được sở dĩ nhiên của nó. Phật dùng phương pháp gì biết được những áo mật của vũ trụ nhân sanh? Hoa Nghiêm Áo Chỉ, dùng phương pháp gì vậy? Dùng thiền định, dùng buông xả. Vấn đề hiện tại của khoa học gia là gì vậy? Họ chưa buông xả, họ không thể đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông xả, họ nương vào là máy móc khoa học, dùng máy móc quán sát nhất định là cách một tầng. Nếu như bạn có thể đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông xả, tâm thanh tịnh hiện tiền, tâm thanh tịnh như một tấm gương vậy, đều chiếu kiến, cho nên Bát Nhã Tâm Kinh nói “”Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không””. Khoa học gia là dùng máy móc tinh vi để quán sát, đó là gián tiếp thấy, Phật pháp là dùng trực tiếp, dùng tâm thanh tịnh để chiếu kiến.

“”Trần vô tự thể, khởi tất y chân””. “”Chân”” là gì? Chân là chân như, chính là “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”. Nếu như không có “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể”, nó không khởi lên được bất cứ thứ gì, nhất định phải y chân, đó chính là chân như.

“”Chân như ký cụ hằng sa chúng đức””, câu nói này chính là Đại Sư Huệ Năng nói “”nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ””, không kém khuyết chút nào, trí tuệ vô lượng, đức năng vô lượng, tướng hảo vô lượng, trong vũ trụ này có bất cứ thứ gì nó thảy đều đầy đủ. Chúng ta cảm thấy rất kỳ lạ, vì sao có thể đầy đủ nhiều đến như vậy? Không cách gì tưởng tượng. Trên thực tế giống như cái ống vạn hoa vậy, đồ hình trong ống vạn hoa vô số vốn tự đầy đủ, cũng giống y như cái đạo lý này, bạn nói nó có, nó không có, bạn nói nó không có, nó hiện tướng, chân thật vốn tự đầy đủ. Nếu như chúng ta đem mỗi một đồ hình chụp ra thành tấm hình, khi trưng bày ra, phòng ghi hình này chúng ta không thể để hết, chân thật không thể để hết, bạn càng chuyển càng nhiều, không tìm ra được hai thứ giống nhau. Tánh đức của tự tánh cũng giống như vậy, Phật nói không thể nghĩ bàn! Nếu như chúng ta tường tận rồi, bạn sẽ chân thật phát tâm quay về tự tánh, vì sao vậy? Quay về tự tánh đạt được gọi là đại viên mãn, tất cả đầy đủ, không có chút nào kém khuyết. Ai không bằng lòng minh tâm kiến tánh! Minh tâm kiến tánh rồi đối với cả thảy vũ trụ, quá khứ, hiện tại, vị lai, thời không vô tận, bạn không có thứ nào mà không tường tận, bạn có được thọ dụng là chân thật, là không hư giả. Trong cái đoạn này, đại sư nêu ra cho chúng ta “”chân như””, chân như là một danh tướng của Phật giáo rất quan trọng. Cái gì gọi là chân? Chân là chân thật không hư, phải biết ở trên kinh Phật giảng được rất hay “”phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng””, chỉ có một cái là chân thật, “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể” là thật, bao gồm tất cả hiện tượng từ trong chân này biến hiện ra huyễn tướng. Cái huyễn tướng này Bồ-tát Di Lặc nói rất hay, Thích Ca Mâu Ni Phật hỏi Bồ-tát Di Lặc “”tâm hữu sở niệm””, phàm phu chúng ta khởi lên ý niệm, trong cái ý niệm này có mấy niệm vi tế cấu thành một ý niệm? (Lời nói này người thông thường không thể hỏi ra được); có mấy cái tướng (có niệm thì có tướng)? Có mấy cái thức? Tướng là hiện tượng vật chất, thức là hiện tượng tinh thần. Bồ-tát Di Lặc trả lời một khảy móng tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Đơn vị là trăm ngàn, trăm ngàn là mười vạn, 32 ức thêm mười ngàn là 320 triệu, chúng ta khởi lên một ý niệm, trong đó có bao nhiêu niệm nhỏ? 320 triệu. “”Niệm niệm thành hình””, mỗi một niệm đều hiện ra hiện tượng vật chất, “”hình đều có thức””, trong mỗi một hiện tượng vật chất, đều có kiến-văn-giác-tri, đều có thọ-tưởng-hành-thức, đây là tinh thần cùng vật chất vĩnh viễn không thể phân ra. Việc này rất khó hiểu. Hiện tại thông thường chúng ta dùng giây để làm đơn vị, thời gian của một khảy móng tay ngắn, chúng ta khảy được nhanh, đại khái có thể khảy được bốn lần, lại nhân làm bốn, trong một giây có bao nhiêu  niệm nhỏ? 320 triệu nhân bốn là 1280 triệu, nếu dùng giây mà nói, là 1280 triệu ý niệm trong một giây, bạn nói xem vi tế dường nào! Chúng ta không cách gì quán sát được, đó là cái gì? Cái thế giới cảm quan hiện thực này chúng ta. Lần trước tôi đã nói đến điện ảnh, chúng ta biết điện ảnh là từng tấm từng tấm chiếu ra, một giây 24 tấm. Hiện tại một giây là bao nhiêu tấm? Một giây là 1280 triệu tấm phim, chúng ta làm sao biết được cái thứ này là giả? Hai ngày trước có đồng tu tặng tôi một cuộn phim nhựa, phim gốc của điện ảnh, đây là tấm huyễn đăng, bạn thấy từng tấm của nó không hề có hai tấm giống nhau, nó là tịnh, không phải động, cái này ở trong máy chiếu một giây là 24 tấm, ống kính mở ra một tấm ở trên màn bạc, lại đóng ống kính đi rồi lại mở ra là tấm thứ hai, đóng mở là tấm thứ ba. Tốc độ này của nó rất nhanh, một giây đồng hồ 24 tấm, chúng ta đã bị màn hình trên màn bạc gạt, chúng ta cho rằng nó là thật, hiện tại Phật nói với chúng ta một giây có 1280 triệu tấm, đây là thế giới hiện tiền chúng ta, Bồ-tát Di Lặc nói được rõ ràng như vậy, khoa học gia cũng nói được rất giống, cũng giống như tôi nghĩ việc này, trong báo cáo của họ viết giống y như chúng ta nói ở đây, thế nhưng không nói được rõ ràng như Bồ-tát Di Lặc đã nói, họ chỉ nói tốc độ rất là nhanh, còn Bồ-tát Di Lặc nói rất cụ thể với chúng ta cái tốc độ này. Cái đạo lý này chúng ta phải hiểu.

Cho nên tướng là huyễn tướng, không phải là chân tướng, thế nhưng huyễn nhất định nương vào chân mà khởi, cái chân này gọi là chân như, cho nên chân là thực tại rõ ràng, như là vĩnh hằng không thay đổi, nó nói thể tánh của vũ trụ tất cả các pháp là chân thật, nó không phải hư ngụy, cho nên gọi là chân; nó là thường trụ bất biến, không thay đổi, cho nên gọi là như. Trong Duy Thức Luận các Bồ-tát có cách nói như vậy, họ nói chân là chân thật, nói chân thật thì không phải là hư ngụy, không phải là hư vọng, như là vĩnh hằng, hay nói cách khác, nó không hề thay đổi, nó không đổi, nó không biến, cái chân thật này là bản thể của tất cả pháp, tự thể của tất cả pháp, cho nên gọi là chân như. Chỗ này rất khó hiểu, cho nên ngay trong lúc học tập, tôi liền dùng màn hình của truyền hình, tôi thường dùng cái này để làm thí dụ. Tôi đem cái màn hình của truyền hình thí dụ cho vĩnh hằng không thay đổi, nó bất biến, đây là chân như, đây là chân thật, thế nhưng nó hiển, trong màn hình hiện ra tướng, nó sẽ thay đổi, hơn nữa cái thay đổi này thì giống như Bồ-tát Di Lặc đã nói, giống như phim gốc, tuyệt đối không có hai tấm hoàn toàn giống như nhau. Ngay khi điện ảnh chiếu ra, bởi vì tốc độ của nó chậm, một giây 24 tấm, chúng ta có thể quán sát được rất rõ ràng, có thể thể hội được rất rõ ràng. Tốc độ của truyền hình nhanh hơn nhiều so với máy chiếu phim, cho nên chúng ta rất không dễ dàng, tuy rất không dễ dàng, chúng ta hiểu được nguyên lý của truyền hình, nó là từ phim gốc nhỏ, tốc độ rất nhanh triển hiện ra ở ngay trước mặt chúng ta, mắt của chúng ta không thể phân biệt kịp, cho nó là thật. Hiện tại chúng ta không luận là truyền hình hoặc là điện ảnh đều là mặt phẳng, Phật nói với chúng ta đó là lập thể, không chỉ là không gian ba độ, mà là không gian nhiều độ, từ trên lý luận mà nói không gian duy thứ là không có hạn độ, vô hạn, mà khoa học gia vì chúng ta chứng thật, chí ít có mười một loại không gian duy thứ khác nhau đang tồn tại. Lời nói này là ngày trước lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói với tôi, ông là một nhà khoa học. Không gian duy thứ khác nhau cũng giống như kênh đài của chúng ta khác nhau vậy, chúng ta ấn một kênh đài nào thì màn hình liền xuất hiện, tắt đi thì màn hình này không còn, ấn tiếp kênh đài khác thì màn hình khác lại xuất hiện, khi chúng ta không ấn một kênh nào thì không có bất cứ hiện tượng nào ở trên màn hình, không thể nói nó không có hiện tượng, kênh đài mở ra thì hiện tượng liền hiện tiền, không thể nói nó có hiện tượng. Phật ở trên kinh giáo như vậy mà nói với chúng ta, bạn mới chân thật nhận biết chân tướng của vũ trụ vạn hữu, danh từ Phật học gọi là thật tướng các pháp. Sau khi thấy được thật tướng bạn liền tâm an lý đắc, đạo lý tường tận rồi thì tâm an, tâm an thì không có vọng tưởng. Người không có vọng tưởng đó chính là Phật Bồ-tát, Phật Bồ-tát không có vọng tưởng, tất cả thông đạt tường tận không có chướng ngại, nói với bạn có sanh tử hay không? Không có, nhất định không có sanh tử. Ngày nay chúng ta nhìn thấy sanh tử là gì? Dường như là có, kỳ thật là giả, tuyệt đối không phải là thật, chân thật nói với bạn đó chính là mỗi một ý niệm sanh thì hiện tượng vật chất tinh thần sanh, mỗi một ý niệm diệt thì hiện tượng vật chất tinh thần liền không còn. Chúng ta xem thấy là liên tục, cũng giống như vừa rồi xem phim gốc vậy, một giây hiện tướng 24 lần, bạn xem thấy cho rằng là thật, kỳ thật không phải vậy, huống hồ Phật nói với chúng ta, ngày nay vạn sự vạn vật trong thế giới cảm quan là 1280 triệu phần trong một giây, tốc độ như vậy, rất nhanh đi qua, làm chúng ta thấy hoa mắt lên rồi cho là chân thật. Đây là nói chân tướng duyên khởi của vũ trụ vạn vật.

Sau khi chúng ta hiểu rõ rồi phải phát tâm khế nhập, bạn tường tận đây gọi là giải ngộ. Giải ngộ không có được thọ dụng, phải chứng ngộ, chúng ta phải khế nhập cái cảnh giới này, dùng phương pháp gì để khế nhập? Buông xả, buông xả chấp trước thì bạn là A-la-hán, chấp trước buông xả thì sáu cõi không còn, sáu cõi không còn thì giống như bạn đổi một kênh đài vậy, bạn đổi kênh đài của A-la-hán, đổi kênh đài của Bồ-tát, đổi kênh đài của Phật, bạn không ngừng hướng lên trên. Buông xả nói ra thì dễ nhưng làm thì rất khó, bạn thật chịu buông xả không? Chịu! Người nào chịu? Người thật tường tận chịu. Tại vì sao chúng ta không thể buông xả? Vẫn chưa thấu triệt liễu giải đối với chân tướng sự thật này, tuy là nghe Phật Bồ-tát nói như vậy nhưng không phải là cảnh giới của chính ta, ta nghe rồi thì thế nào? Nửa tin nửa nghi, hoặc giả ta tin tưởng nhưng ta lắc lắc đầu nói tôi không làm được. Năm xưa khi tôi mới bắt đầu học Phật, đại sư Chương Gia nói với tôi “”Phật pháp biết khó dễ hành””, lúc đó tôi nghe lời nói này rất khó hiểu. Biết khó hành dễ. Bạn thấy Đại sư Huệ Năng 24 tuổi ngài liền vào cảnh giới, chân thật dễ dàng, buông xả liền khế nhập. Bao nhiêu người học cả đời, học đến 80 tuổi, 90 tuổi vẫn là không thể buông xả, vẫn là không cách gì thoát khỏi sáu cõi luân hồi, nguyên nhân gì vậy? Không buông xả được. Học Phật không gì khác hơn chính là buông xả. Đối với phàm phu sáu cõi tình chấp quá nặng, Phật có pháp phương tiện, biết bạn không buông xả được bạn mê luyến ở trong đó, vậy Phật dạy cái gì? Phật dạy bạn luân lý, Phật dạy bạn đạo đức, tại vì sao dạy bạn như vậy? Bởi vì trong sáu cõi có thiện ác, quả báo của thiện ác không như nhau, làm ác chịu khổ ba đường ác, Phật rất từ bi, mong muốn bạn không nên đọa vào trong ba đường ác, vậy nhất định dạy bạn chỉ cần bạn hiểu luân lý, tu đạo đức, bạn liền sẽ ở trong ba đường thiện, nhân gian thiên thượng, bạn sẽ không đọa lạc vào trong ba đường ác. Việc này cũng giống như tiểu học của Phật giáo. Nếu như bạn chân thật có chí nguyện, có chí khí, sáu cõi không cứu cánh, trong đây vẫn là không viên mãn, ta muốn nâng lên, Phật sẽ giúp đỡ bạn, Phật liền dạy bạn buông xả chấp trước, không còn chấp trước đối với tất cả pháp thế xuất thế gian. Cái ý niệm chấp trước không còn, sáu cõi liền không thấy, vì là giả không phải là thật. Cũng giống như chúng ta xem truyền hình đổi kênh đài vậy, không xem kênh này nữa, kênh này ta không thích xem, xem thế giới thanh tịnh. Sáu cõi là uế độ, ô nhiễm, pháp giới bốn thánh là thanh tịnh, trong đây có bốn giai cấp, cũng giống như có bốn kênh đài vậy, cái này thù thắng hơn cái kia. Cái thứ nhất là A-la-hán, cái thứ hai là Bích Chi Phật, cái thứ ba là Bồ-tát, cái thứ tư là Phật, Phật trong mười pháp giới, cái này thù thắng hơn cái kia. Ở trong đây học được cái gì? Học được buông bỏ phân biệt, không còn phân biệt với tất cả pháp, vậy thì đến được pháp giới của Phật. Thế nhưng pháp giới Phật vẫn là không cứu cánh, còn ở trong mười pháp giới, chưa đến pháp giới nhất chân, vì sao vậy? Họ vẫn còn khởi tâm động niệm, chính là họ vẫn có vọng tưởng. Vọng tưởng buông xả thì mười pháp giới không còn, cõi Thật Báo của chư Phật hiện tiền, cõi Thật Báo của thế giới Cực Lạc hiện tiền, cõi Thật Báo của Tỳ Lô Giá Na Phật thế giới Hoa Tạng hiện tiền. Báo độ của chư Phật Như Lai là thuần tịnh không có ô nhiễm, vì sao vậy? Ngay đến khởi tâm động niệm họ cũng không có. Khởi tâm động niệm không có tại vì sao vẫn còn cảnh giới? Tập khí chưa đoạn, cho nên cảnh giới này hiện tiền. Tập khí nếu như đoạn dứt thì cảnh giới này liền không còn, liền quay về Thường Tịch Quang, chân thật quay về đến tự tánh.

Chân như vẫn là có rất nhiều danh tự, chúng ta xem thấy ở trong quyển sách này, “Tự Tánh Thanh tịnh Viên Minh Thể” chính là chân như, thông thường trong kinh đại tiểu thừa gọi tự tánh tâm thanh tịnh, hoặc là nói Phật tánh, pháp thân, trong Duy Thức gọi là Như Lai Tạng, thật tướng, pháp giới, pháp tánh, viên thành thật tánh, danh từ rất nhiều, chí ít cũng có mấy mươi loại, đều là nói một sự việc. Một sự việc vì sao Phật nói ra nhiều danh tướng như vậy? Đây là một loại nghệ thuật, một loại kỹ xảo giáo học của Phật, bảo bạn không nên chấp trước danh tướng, danh tướng cũng là giả. Cho nên nghe kinh phải biết nghe, xem kinh phải biết xem, cái gì gọi là biết? Bồ-tát Mã Minh ở trong Khởi Tín Luận nói với chúng ta, thứ nhất nghe kinh không nên chấp trước tướng ngôn thuyết. Văn tự là phù hiệu của ngôn thuyết, hay nói cách khác, xem kinh không nên chấp trước tướng văn tự, đây là việc thứ nhất. Thứ hai không nên chấp trước tướng danh tự, chính là danh từ thuật ngữ. Danh từ thuật ngữ là dẫn đạo bạn khế nhập chân thật, bạn chấp trước nó thì sai rồi, cho nên sự việc này Phật sẽ nói rất nhiều danh tự, bảo bạn không nên chấp trước, nói thế nào cũng đều được, không có định pháp có thể nói. Thứ ba bảo bạn không nên khởi tâm duyên tướng, chính là không nên nghĩ đến ý nghĩa của nó, nghe hiểu rất tốt, nghe không hiểu không hề gì, không nên nghĩ tưởng, bạn nghĩ thì liền sai, vì sao vậy? Bạn tưởng, bạn dùng là tâm phân biệt, tâm chấp trước, bạn làm sao hiểu rõ chân thật nghĩa Như Lai đã nói? Chân thật nghĩa Như Lai đã nói là từ trong tự tánh, từ trong không khởi tâm không động niệm, không phân biệt, không chấp trước mà lưu xuất ra, nếu bạn dùng phân biệt chấp trước mà thể hội thì hoàn toàn sai rồi, đạo lý chính ngay chỗ này. Không tưởng thì có thể thấu hiểu hay không? Có thể, bạn cứ đọc mỗi ngày, người xưa có một câu nói rất có đạo lý “”đọc thứ thiên biến, kỳ nghĩa tự kiến””, vì sao vậy? Sách đọc ngàn lần thì tâm định lại, cái định này chính là tâm thanh tịnh, chính là chân như, tâm thanh tịnh khởi tác dụng chiếu kiến, chẳng phải đã tường tận rồi sao? Bảo bạn đọc một ngàn lần đây là phương pháp. Phương pháp là giới, là qui củ, bạn phải giữ lấy qui củ này mà làm, bạn liền cố gắng mà đọc, cung kính kính cẩn mà đọc, y theo Bồ-tát Mã Minh đã nói, không dính vào tướng văn tự, không dính vào tướng danh từ thuật ngữ, không khởi tâm động niệm nghĩ đến nó, bạn giữ lấy cái qui củ này đây gọi là trì giới. Nhân giới được định, đọc qua một ngàn biến tâm định lại. Định có thể khai huệ, do định mà trí tuệ liền khai. Trí tuệ khai rồi thì thấu suốt. Khi vừa thấu suốt thì không cần phải lo, tất cả đều tường tận, vì sao vậy? Bởi vì tất cả pháp không lìa tự tánh, bạn kiến tánh rồi thì tất cả thảy đều tường tận, cho nên nói “”một kinh thông, tất cả kinh thông””, một pháp môn tường tận rồi bao gồm tất cả pháp môn thảy đều tường tận. Diệu, thật diệu!

Có hai đại biểu rõ ràng nhất. Thích Ca Mâu Ni Phật vào năm xưa, đây là đại biểu phần tử tri thức, thông minh hiếu học, ngài đến là biểu diễn cái vai diễn này để cho chúng ta xem, 19 tuổi xuất gia cầu học, học qua 12 năm. Chúng ta biết được Thích Ca Mâu Ni Phật là thân phận vương tử, xuất thân quý tộc, thông minh hiếu học, có một vị đại đức nào mà không ưa thích vị học trò này? Cho nên vào năm đó ở Ấn Độ có thể nói là học thuật tôn giáo đều là một khu vực phát triển nhất trên toàn thế giới, ngài thăm viếng đại đức giới học thuật, thăm viếng bậc cao đức trong giới tôn giáo, học qua 12 năm, tất cả những người cần thân cận thảy đều tiếp kiến qua, đều học qua với họ. Trong đây có một việc chúng ta cần phải nên biết, đó chính là Ấn Độ không luận là học thuật, không luận là tôn giáo, họ đều rất xem trọng thiền định, đương nhiên Thích Ca Mâu Ni Phật cũng không ngoại lệ. Trên Phật kinh nói Tứ Thiền Bát Định không phải là Phật nói, là năm xưa Ấn Độ phổ biến đều học tập Tứ Thiền Bát Định. Tứ Thiền Bát Định nếu như từ trên lịch sử mà nói, sớm nhất là Bà La Môn. Bà La Môn có mười ngàn năm lịch sử, sớm hơn nhiều so với Phật giáo. Thiền định có thể đột phá không gian thời gian duy thứ, cho nên khi vào định, cả thảy sáu cõi luân hồi thảy đều có thể thấy được, họ có thể khế nhập, cho nên đối với tình hình trong sáu cõi rõ ràng tường tận, không có chút chướng ngại nào. Người hiếu học như Thích Ca như vậy, một người trẻ tuổi như vậy, chúng ta lấy chính mình làm thí dụ, liền có thể tưởng tượng ra được, họ vẫn còn có một số vấn đề không thể giải quyết, sáu cõi tuy là có thể thấy rõ ràng, thấy tường tận, nhưng sáu cõi từ do đâu mà ra? Vấn đề thứ hai tại vì sao có sáu cõi? Vấn đề thứ ba ngoài sáu cõi ra còn có thế giới hay không? Ba vấn đề này không có người nào có thể giải đáp, cho nên ngài buông bỏ. Đây đều là làm ra tấm gương cho chúng ta xem, ở dưới cội Bồ Đề bên cạnh sông Hằng, đem 12 năm đã học thảy đều buông xả, vào thiền định tầng thứ sâu hơn. Thiền định càng sâu này đột phá phạm vi của Tứ Thiền Bát Định, vấn đề của ngài thảy đều được giải đáp. Vũ trụ nhân sanh từ do đâu mà ra? Trong “”Hoa Nghiêm Hoàn Nguyên Quán”” là nói đến vấn đề này, thảy đều có được giải đáp, gọi là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Sau khi triệt ngộ ngài liền bắt đầu dạy học, dạy cả một đời, dạy hết 49 năm, 79 tuổi Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch, cho nên trên kinh thường nói, giảng kinh hơn 300 hội, nói pháp 49 năm, ngài từ nơi công việc giáo dục làm 49 năm. Theo cách nhìn của người hiện tại, Thích Ca Mâu Ni Phật là một người như thế nào vậy? Ngài chân thật là một (208)

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


năm × 2 =

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: