Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú-2014 (tập 10)

ngày 22/3/2014 Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà HongKong
Mời xem < Đại Kinh Khoa Chú> trang 156 bắt đầu xem từ hàng thứ 5 chú giải,
“Thượng” ở đây nghĩa là trở lên “minh bổn kinh quảng ứng quần cơ, nhi kỳ ân đức vưu thâm ư ngã sài phàm phu” đương kim mạt pháp,chúng sanh phước tuệ thiển bạc cấu chướng thâm trọng, duy lại thử phương tiện pháp môn. đản bằng tín nguyện trì danh tiện năng công siêu lũy kiếp, vãng sanh Cực Lạc,kính đăng bất thối”. phía trước là nói nói rõ cái pháp môn này thượng trung hạ căn tất cả đều thích ứng, cũng tức là nói,bất kể là nam nữ già trẻ,hiền ngu bất hảo, bên trên từ Đẳng Giác Bồ Tát, bên dưới cho đến vô gián địa ngục, tất cả chúng sanh gặp được pháp môn này đều có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi, thoát khỏi mười pháp giới, từ đây chúng ta thật sự hiểu được đây là pháp môn vô cùng thù thắng. Niệm lão cư sĩ ở đây nói với chúng ta rằng “nhi kỳ ân đức vưu thâm”, đây là nói Phật A Di Đà thiết lập nên thế giới Tây Phương Cực lạc lấy tín nguyện trì danh tiếp dẫn tất cả chúng sanh ở thập phương, cho nên đối với những người phàm phu chúng ta có lợi ích vô cùng thù thắng. Tại sao? Phía dưới nói “Đương kim mạt pháp”. đây là nói thời buổi hiện nay, là thời kỳ mạt pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. pháp vận của Đức Thế Tôn là 12 ngàn năm, chánh pháp 1000 năm, tượng pháp 1000 năm, mạt pháp 10.000 năm. nếu như y theo sự ghi chép của Tổ Sư Đại Đức Trung Hoa ngày xưa mà nói thì Đức Thế Tôn ra đời vào năm giáp Dần,năm thứ 24 vua Châu Chiêu Vương viên tịch là vào năm thứ 25 vua Châu Mộc Vương. sự ghi chép lịch sử của người Trung Hoa rất là rõ ràng, nếu y theo sự ghi chép này, Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ cho đến năm này là 3041 năm cùng với cách nói của người ngoại quốc thì khác nhau, người ngoại quốc nói chỉ có 2500 năm, chênh lệch hết 600 năm. đối với cách nói của các vị tổ sư đại đức thời xưa ở Trung Hoa chúng ta có lý do để tin tưởng Tại sao? Vì người Trung Hoa rất xem trọng lịch sử nhất là những khảo chứng của niên đại, họ rất là cẩn thận, không phải là ghi chép tùy tiện. Mạt Pháp là 10 ngàn năm,đã trôi qua hết 1000 năm, 1000 năm đầu đã trôi qua , hiện tại là 1000 năm lần thứ 2 sự sơ khởi của 1000 năm lần thứ 2 mới trải qua được 41 năm, chúng ta là sanh ra vào thời đại này. “Chúng sanh phước tuệ thiển bạc”,quả đúng là như vậy, nếu so với người đời trước thì chúng ta kém rất xa “cấu chướng thâm trọng”, cấu là ô nhiễm,chướng là nghiệp chướng rất sâu rất nặng đây cũng rất là rõ ràng. những người cao niên đời trước của chúng ta tuy là có ô nhiễm,nhưng không có nghiêm trọng như vậy trong ký ức của tôi trên thế giới này bắt đầu đề xướng bảo vệ môi trường thời gian này không lâu khi tôi mới học Phật, thậm chí vào lần tiên tôi đến Hồng Kông để giảng kinh, vào năm 1977 cũng chưa nghe nói qua “bảo vệ môi trường” cái danh từ này,lúc đó không có phổ biến lắm, những người biết đến cũng không nhiều. đề xuất cái danh từ này tức là rõ ràng nói cái quả địa cầu này đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, mọi người đều phải chú trọng cho việc bảo vệ môi trường đã từng có người hỏi qua tôi, hình như là ở Hồng Kông, tại vì lúc đó mỗi năm tôi đến Hồng Kông để giảng kinh một tháng. lần đầu đến giảng kinh giảng hết 4 tháng, là khoảng thời gian dài nhất, sau đó lại có rất nhiều vùng ở các nước khác lại mởi tôi đi giảng nên mới đổi thành một năm đến đó giảng 1 tháng. tôi cũng đã từng được Đài truyền hình Hồng Kông phỏng vấn qua tôi nhớ là hình như có đưa ra vấn đề này, họ hỏi tôi bảo vệ môi trường có thể thu được hiệu quả không? lúc đó tôi trả lời rằng rất khó thu được hiệu quả. họ hỏi tôi tại vì sao? tôi nói: Bảo vệ môi trường là phải từ trong tâm mà bắt đầu, không có sự bảo vệ môi trường của cái tâm tức là sự ô nhiễm của tâm lý chỉ đơn thuần nói đến sự ô nhiễm của môi trường ở bên ngoài thì rất là khó thu được hiệu quả trong kinh Đại Thừa Phật thường dạy chúng ta rằng, hoàn cảnh vật chất ở bên ngoài nó tùy thuộc vào ý niệm của chúng ta mà thay đổi tất cả các pháp là do tâm sanh, cảnh tùy tâm chuyển,tướng tùy tâm chuyển tướng mạo của con người cũng sẽ thay đổi, bề ngoài của trái đất cái diện mạo này cũng sẽ thay đổi hoàn toàn phải xem từ cái tâm của con người cho nên việc bảo vệ môi trưởng phải bắt đầu làm như thế nào? từ trên tâm lý mà bắt đầu làm bạn hãy xem,tâm bị ô nhiễm rồi,nghiệp chướng thì nặng dù cho bên ngoài có cố gắng mấy thì làm cũng không thu được hiệu quả, phải từ nội tâm mà bắt tay làm thì mới là biện pháp. chuyện này vào lúc trước vào tháng 11 năm 2005 chúng tôi ở Thang Trì-Lô Giang làm một cuộc thực nghiệm cuộc thực nghiệm của chúng tôi ở nơi đó là thực thi giảng dạy văn hóa truyền thống, tức là< Đệ Tử Quy>, ,. cuộc thực nghiệm này làm hết 3 tháng mấy,không đến 4 tháng thì đã thay đổi được thị trấn này rất lớn con người đã tìm về với lương tâm của chính mình không bằng lòng làm những chuyện xấu làm những chuyện xấu họ cảm thấy là điều nhục nhã chúng tôi hi vọng có thể làm được đến cái mục tiêu này nhưng làm cho chúng tôi cảm thấy rất là kinh ngạc là văn hóa truyền thống đã bị đánh mất suốt 200 năm nay cách nghĩ trước tiên của chúng tôi là ít nhất là phải 2 đến 3 năm thì mới có thể nhìn thấy được hiệu quả nhưng không ngờ là chỉ có hơn ba tháng là nhìn thấy được hiệu quả, làm cho chúng tôi cảm thấy rất kinh ngạc. lúc đó tôi nói chuyện với các thầy cô tôi nói với họ rằng chúng ta tuyệt đối không thể ngạo mạn, cái thành tựu này là không phải đức hạnh của chúng ta không phải trí tuệ hay năng lực của chúng ta mà có thể làm được, Tại sao lại có cái thành tựu này , thành tích này xuất hiện? đó là do tổ tiên gia trì do tổ tiên phù hộ,tam bảo gia trì người dân ở nơi này nghe lời chịu hợp tác với chúng tôi,nên mới có thể làm được thành công. vì thế chúng ta phải cảm tạ ân đức của tổ tiên, cảm tạ ân đức của Tam Bảo, cảm tạ sự phối hợp của quần chúng nơi này. cuộc thực nghiệm này chứng minh được là nhân tính vốn thiện lành, chứng minh được là con người rất dễ giáo huấn, chỉ là không có ai chỉ dạy họ mà thôi. mặc dù ở Thang Trì chúng tôi đã dừng khóa học khóa học đã ngưng dạy nhiều năm rồi ở khu vực Triều Châu của tỉnh Quảng Đông có một nhà doanh nghiệp tên là Tạ Tổng vào ba năm gần đây ông ấy dùng văn hóa truyền thống để giáo huấn nhân viên của mình thu được hiệu quả rất lớn trong ba năm này không ngừng mở lớp học làm rất là thành công thời gian học không dài lắm lớp ngắn hạn là 1 tuần dài hạn một chút thì ba tuần,21 ngày thì có thể đánh thức lương tâm của con người thành tích tuyệt vời so với ở trấn nhỏ Thang Trì mà chúng tôi làm còn thành công hơn, nhận được sự tán thán của lãnh đạo chính quyền địa phương tán thán không phải bằng miệng,mà là bằng hành động lãnh đạo địa phương hạ lệnh cho cấp dưới của họ bộ phận thuộc cấp dưới của họ là thành phố,huyện,trấn đến trưởng thôn và xã đến tiếp thu sự giáo dục này bộ mặt địa phương,bộ mặt xã hội đều được sáng sủa mới mẻ làm cho mọi người cảm thấy kinh ngạc chứng minh rằng những cái mà chúng tôi nói ở Thang Trì là con người rất dễ giáo huấn. đặc biệt là nhà giam những người thọ hình những người này là khó giáo huấn nhất, họ có thể dùng thời gian 7 ngày để chuyển biến hoàn toàn khí chất của những phạm nhân thọ hình này. trong nhà giam họ mỗi ngày đánh nhau 20 đến 30 lần bây giờ thì 1 lần cũng không có những phạm nhân cùng với nhân viên quản lý đối xử nhau rất là hòa nhã, gặp mặt nhau đều cúi đầu chào,đều hỏi thăm nhau sự giáo dục là quan trọng hơn thứ gì hết! họ giáo huấn như thế nào? họ nói với tôi rằng,phải xem trọng cái giáo dục nhân quả, đem giáo dục nhân quả này xếp ở hàng đầu, đạo đức luân lý xếp ở thứ hai. họ cái gì cũng không sợ thật sự hiểu được nhân quả, biết được báo ứng nhân quả là thật thì họ sẽ suy nghĩ chính chắn hơn cách làm này là chính xác. những người quản giáo thu thập những thí dụ tiêu biểu về báo ứng nhân quả rất là nhiều,những cái này có thể thuyết phục được người ta là nhân quả hiện tiền,nó ở ngay trước mắt đem nó nói ra một cách rõ ràng,một cách minh bạch bạn có tin hay không? thiện hữu thiện báo,ác hữu ác báo để cho những người thọ hình nghe rồi họ sẽ giác ngộ thật sự suy ngẫm những gì mình đã làm là sai và sẽ thừa nhận lỗi lầm,sám hối, sau khi phát nguyện sẽ không tái phạm nữa,làm người lại từ đầu làm người lại rất là có thành tích, cho nên tôi hi vọng họ có thể đem sự thật chân tướng làm một bài báo cáo cùng với Liên Hiệp Quốc nhắc nhở mọi người dùng cái phương pháp này sẽ có thể giải quyết được vấn đề nhất là đối với vấn đề xung đột, xung đột được hóa giải thì xã hội sẽ ổn định hài hòa. phải nhờ vào giáo dục,nhờ vào giáo dục nhân quả, nhờ vào giáo dục luân lý và giáo dục đạo đức,giáo dục tôn giáo, thì nhất định sẽ làm được. đây mới là thật sự tu phước tu huệ,tiêu trừ nghiệp chướng, khôi phục được sự thanh tịnh bình đẳng của chính bản thân. đoạn văn phía dưới nói, tình hình hiện nay, “duy lại thử phương tiện pháp môn, đản bằng tín nguyện trì danh tiện năng công siêu lũy kiếp, vãng sanh Cực Lạc,kính đăng bất thối”. Gần đây chúng ta nhìn thấy được một vài biểu pháp, là ba người học Phật ở Phật Lai tự Hải Khánh pháp sư, mẫu thân của Hải Hiền pháp sư và ngài, ba người này hoàn toàn là dựa vào một câu A Di Đà Phật. họ không có học văn hóa,không biết chữ, nhưng chỉ biết niệm một câu A Di Đà Phật ngài Hải Hiền với câu Phật hiệu này đã niệm hết 92 năm hiệu quả là cái gì? tuổi thọ đến 112 tuổi, sức khỏe với người trẻ tuổi thì như nhau cái này làm cho người ta cảm thấy rất ngưỡng mộ. cảm thấy Bất khả tư nghì! người ở tuổi 112 ngài tự chăm sóc cho mình không cần sự chăm sóc của người khác việc gì cũng đều tự mình làm nấu cơm,gánh nước,giặt quần áo còn cả việc may vá nữa. ngài là người xuất gia, nhưng cả đời không có rời khỏi việc nông gia. ngài ở trên núi hoang khai khẩn trồng trọt với mảnh đất hơn 100 mẫu, trong chùa chúng trường trụ chỉ có 4 người, dĩ nhiên là thành quả thu hoạch với diện tích đất lớn như vậy thì bốn người sẽ ăn không hết , nếu ăn không hết ngài sẽ bố thí cho làng xóm hoặc bố thí cho những nông dân nghèo ở nơi đó ngài đều có thể chăm sóc được. ( ngài đều Chiếu cố hết) ngôi chùa nhỏ ở nông thôn không có người đến lễ Phật, không có hương hỏa,không có thu nhập cúng dường, nhờ hết vào sự trồng trọt của bản thân, ngài trồng lương thực,trồng rau cải,trồng trái cây, 92 năm không có nghỉ ngơi,càng già thì càng dẻo dai. một câu Phật hiệu niệm cho đến cảm ứng bất khả tư nghì, ba người ra đi đều là tự tại mà ra đi, vui vẻ hoan hỷ nói ta đi đây, là đi thật bạn bè,có một số người nói với ngài lão hòa thượng à,ông có biết khi nào ra đi không? nói cho chúng tôi biết, để chúng tôi hộ niệm giúp ông. ngài từ chối,ngài không cần ai hộ niệm cả, ngài nói hộ niệm không có đáng tin, ta tự đi ta tin ở bản thân ta. ngài đều biết trước ngày giờ đến, hoan hoan hỷ hỷ,vui vẻ tự tại mà ra đi. đây chính là dựa vào tín nguyện trì danh tức là bốn chữ này ba người họ thành tựu đều là từ bốn chữ này. dựa vào tín nguyện trì danh, chúng tôi nghe nói,chúng tôi nhìn thấy, có, là có thật đấy, không phải chỉ là nghe nói không. khi tôi ở Hoa Kỳ thì nhìn thấy được 2 người. ở San Francisco có một bà cụ,cũng là người niệm Phật, ở nhà làm công việc nhà. con trai ở Hoa Kỳ thì đi học, sau khi tốt nghiệp ở lại Hoa Kỳ làm việc,rồi kết hôn, con trai và con dâu đều đi làm, họ sanh ra đứa cháu người con trai rước mẹ anh ấy sang Hoa Kỳ để chăm sóc đứa cháu và làm giúp việc nhà, việc trong nhà toàn là người mẹ làm đứa cháu chỉ khoảng chừng 4 tuổi,đi học mẫu giáo, cho nên ban ngày bà cụ ở nhà một mình, niệm Phật rất tốt,không có ai quấy nhiễu. cạnh nhà lối xóm đều là người ngoại quốc,ngôn ngữ bất đồng, cũng là cơ hội tốt cho bà niệm Phật. phải nói là niệm hết 3 năm,thì có thể biết trước ngày giờ ra đi. lúc bà ấy vãng sanh là vào nửa đêm,không có ai hay, mọi người đều ngủ hết. sáng hôm sau không có người nấu cơm bà cụ không có thức dậy đẩy cửa phòng nhìn vào xem bà cụ ăn mặc rất chỉnh tề, còn mặc áo hải thanh nữa, tay cầm xâu chuỗi ngồi trên giường, là xếp bằng ngồi trên giường gọi bà ấy cũng không thấy trả lời,nhìn kỹ xem,thì ra đã đi rồi. bà ấy có để lại di chúc, đặt ở bên cạnh, và đã may sẵn hết tang phục cho con trai,con dâu và đứa cháu. từ đây có thể thấy được, ít nhất là 3 tháng trước là bà ấy đã biết trước, nếu không bà ấy làm sao có thể may sẵn hết tang phục? khi bà ấy may tang phục nhất định là lúc con trai và con dâu đều đi làm, đứa cháu nhỏ đi học,không có ai biết, không có ai nhìn thấy bà ấy làm. lúc này những thứ này đều đặt ra ở trên giường. từng phần từng phần để ở trên giường. bạn thân và là đồng tu của bà ấy là bà Cam thường hay nghe tôi giảng kinh, đem chuyện đó kể lại cho tôi nghe, nói là bạn đồng tu của bà ấy đã vãng sanh rồi. bà cụ này mới đúng là thật sự vãng sanh,không phải là nhờ hộ niệm, đây là ở Cali. Còn ở bờ biển phía đông bang Maryland tôi cũng có gặp được một người,là Châu Quảng Đại tiên sinh, cũng là người Trung Hoa. ông ấy ở bên đó mở tiệm bán bánh mì, ông ấy bị bệnh ưng thư, bệnh viện tuyên bố là không thể trị được. kêu người nhà ông ấy trở về nhà,nói với người nhà ông ấy rằng ông ấy sống không quá một tháng. người trong gia đình đều rất sốt ruột, cả nhà đều không có tín ngưỡng tôn giáo người đã đến mức này bệnh viện không tiếp nhận nữa,vậy là họ tìm đến tôn giáo, hi vọng có kỳ tích xuất hiện. khi đó chúng tôi cũng ở nơi đó thành lập hội Phật giáo mới được hơn 1 năm hội Phật giáo của chúng tôi thành lập năm 1984 mọi người muốn tôi làm hội trưởng. người nhà của Châu Quảng Đại tìm được chúng tôi chúng tôi phái bốn người bạn đạo, đi niệm Phật, đến nhà ông ấy xem xem. họ gọi điện về nói với tôi là quả thật là ông ấy không xong ,đã hết cách cứu chữa rồi, chỉ có khuyên ông ấy niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ. người này có sẵn thiện căn,nên liền tiếp nhận, ông ấy dặn dò người nhà không cần phải chữa trị nữa,không cần phải thuốc men nữa, mọi người mới niệm Phật tiễn đưa ông ấy vãng sanh. ông ấy đồng ý. cho nên bốn người bạn đạo của chúng tôi mới chia ca, mỗi ca có bốn người, người nhà và thân bằng quyến thuộc của ông ấy niệm hết ba ngày ba đêm,thì ông ra đi. ra đi rất là tốt, toàn thân đều mềm mại, khi hỏa táng còn có xá lợi nữa. đây là một người vốn không tin Phật, trong lúc lâm chung nhưng do ông ấy có thiện căn,khuyên ông ấy ông ấy tin tưởng, bảo phát nguyện ông ấy phát nguyện thật rất là hiếm có! Cùng với việc người nhà ông ấy chịu hợp tác,không có bài bác, tất cả đều y giáo phụng hành, nên mới có hiệu quả tốt như vậy. Hội Phật Giáo ở Washington sau khi thành lập thì làm được một việc lớn, là tiễn đưa một người vãng sanh tiễn đưa một người không có tín ngưỡng tôn giáo vãng sanh, làm rất thành công. đây là do người này có phước báo,nên mới có cái duyên này ở Đài Loan, vào 40 mấy năm trước, có một bà cụ ở xã Tướng Quân, cũng là biết trước được ngày giờ đứng mà vãng sanh. khi ở Hồng Kông giảng kinh vào năm 1977, lần đầu tiên tôi đến đó, Đàm lão pháp sư đã qua đời, nơi mà chúng tôi giảng kinh là thư viện Phật Giáo Trung Hoa – Cửu Long, cái đạo tràng này là do Đàm Hư lão pháp sư thành lập tôi chưa từng biết mặt qua lão pháp sư khi lão pháp sư còn tại thế làm Phật thất giảng khai thị thì có 2 cuộn băng cát sét là một người đồng tu mang đến cho tôi. vì ngài là người Miền Bắc Trung Quốc nên tôi nghe tiếng địa phương của ngài nghe không hiểu cho lắm tôi nghe một lần rồi một lần nữa,nghe đến 30 mấy lần. đại khái là tôi có thể hiểu được 80%, nghe hiểu được 80% ngài kể hai câu chuyện, một chuyện nói về một hòa thượng tham thiền, một chuyện nói về một hòa thượng niệm Phật, cả hai đều là đệ tử của lão hòa thượng Đế Nhàn. người đệ tử niệm Phật rất có thành tựu. niệm Phật hết ba năm,do ông ấy không biết chữ, hơn nữa 40 tuổi mới xuất gia, nên trong chùa không còn cách nào, đưa ông ấy về nông thôn ở, tìm một ngôi chùa nhỏ,đã bị bỏ hoang không ai có cần đến không có người ở,cho ông ấy ở, chỉ dạy cho ông ấy một câu Nam Mô A Di Đà Phật. niệm mệt rồi thì nghỉ ngơi, nghỉ ngơi xong lại tiếp tục niệm,không phân biệt ngày và đêm, khi nào mệt thì khi đó nghỉ ngơi, nghỉ ngơi xong rồi lại tranh thủ mà niệm. người đồ đệ này thật thà,nghe lời,làm thật. trước ngày ông ấy vãng sanh 1 ngày. ba năm trời ông ấy không có rời khỏi ngôi chùa này, không có đi ra ngoài, có một hôm ông ấy ra ngoài thăm bạn của ông ấy buổi tối mới trở về nhà. trong chùa có một bà cụ chăm sóc cho ông ấy ông ấy nói với bà cụ rằng, ngày mai cụ không nấu cơm giúp tôi nữa. bà cụ nghĩ thầm, sư phụ ba năm liền không rời khỏi chùa, hôm nay ra khỏi chùa đi thăm bạn, có lẽ là ngày mai bạn của thầy mời thầy ăn cơm cơm trưa không cần nấu. đến trưa,bà cụ đi xem lại xem xem có phải sư phụ đã ra ngoài không trong chùa không có ai, gọi mãi cũng không ai trả lời, xem hết mọi nơi,nhìn thấy sư phụ đứng ở trong phòng mặt xoay về hướng tây, trên tay cầm xâu chuỗi,gọi ngài cũng không thấy trả lời, nhìn kỹ lại,thì ra ngài đã viên tịch. bà ấy hoảng hốt lên, vì từ đó đến giờ chưa thấy qua ai đứng mà viên tịch. ở dưới quê còn có một số người bạn đồng tu họ đều là đồ đệ của lão hòa thượng Đế Nhàn có người Đệ tử quy y Tam Bảo tại gia gọi mọi người đến,mọi người đều đến thăm mọi người cùng bàn bạc, khẩn trương đưa thư cho lão hòa thượng lúc đó còn chưa có phương tiện giao thông, nên đi bộ, từ ngôi chùa nhỏ này đi đến Quan Tông tự, phải mất thời gian một ngày, lão hòa thượng cũng gấp rút sang bên này tới lui phải mất ba ngày,ông ấy đứng hết 3 ngày. bạn xem đó,ông ấy đã viên tịch,còn đứng hết cả 3 ngày. lão hòa thượng sắp xếp hậu sự cho ông ấy đối với ông ấy rất là tán thán: ” ông không uổng là người xuất gia,thành tựu của ông, các pháp sư Hoằng Tông Diễn Giáo cũng không bằng ông, phước báo lớn của các phương trượng trụ trì ở danh sơn bảo sát cũng không bằng ông.” tán thán ông ấy như vậy lấy tấm gương của ông ấy để khuyến khích các bạn đồng đạo niệm Phật của chúng ta phải học tập theo họ còn có một người vãng sanh khác, là ở chùa Cực Lạc Cáp Nhĩ Tân, chùa Cực Lạc vừa xây cất xong, ngôi chùa này là của pháp sư Đàm Hư xây cất Đàm Hư là học trò của lão hòa thượng Đế Nhàn, ông ấy là người Miền Bắc (Trung Quốc) sau khi xuất gia lão hòa thượng gọi ông ấy về quê để hoằng pháp, duyên của ông ấy là ở Miền Bắc. cho nên ở Miền Bắc dựng lên mười mấy cái đạo tràng, đều là của Đàm Hư dựng lên. sau khi Cực Lạc tự xây cất xong đầu tiên là mở một pháp hội truyền giới, hi vọng cái đạo tràng này có thể hưng thịnh lên, lần đầu tiên truyền giới. truyền giới có rất nhiều người làm công quả, những người xuất gia tại gia đến hộ pháp, có một người xuất gia đến là Tu Vô pháp sư, là một người niệm Phật chân thật,không biết chữ trước khi xuất gia ông ấy là thợ hồ, sau khi xuất gia ở trong đạo tràng làm những công việc nặng nhọc, những việc người khác không chịu làm ông ấy đều làm hết, không sợ cực nhọc, đến đạo tràng làm công quả, Pháp sư Định Tây đến hỏi ông ấy, ông có thể làm được việc gì? ông ấy bằng lòng chăm sóc người bệnh, truyền giới 53 ngày ở đây có những người trúng gió cảm mạo,thì ông ấy đến chăm sóc. đạo tràng là cần những người như vậy,nên giữ ông ấy ở lại. không bao lâu, ông ấy tìm Đàm lão hòa thượng và pháp sư Định Tây, ông ấy nói với 2 người họ là ông ấy phải đi rồi, Đàm Hư lão pháp sư là người có tu dưỡng, nên người đến thì không từ chối, người đi cũng không giữ lại,ngài không nói lời nào, ngài Định Tây thì làm gia sư nên trách móc ông ấy hết một trận giới kỳ chỉ có 53 ngày, chẳng lẽ ông không có một chút lòng nhẫn nại sao? sao mới đến có mấy ngày rồi lại muốn đi? lúc này ông ấy mới nói, ông ấy nói xin bẩm cáo với lão hòa thượng giúp, tôi không phải là đi nơi khác mà tôi đi vãng sanh về Thế Giới Tây Phương Cực Lạc. chuyện này rất lớn, ông ấy vãng sanh Thế Giới Cực Lạc, thì hỏi xem ông ấy là khi nào? Không quá 10 ngày, chỉ trong 10 ngày, lúc này lão hòa thượng mới hiểu yêu cẩu chuẩn bị chẻ cho ông ấy 200 cân củi, chuẩn bị cho việc hỏa táng,giúp đỡ ông ấy. việc này pháp sư Định Tây đồng ý. đến ngày hôm sau ông ấy lại đến nói rằng: lão hòa thượng,hôm nay con sẽ đi rồi. mọi người vội vàng căn cái lều cho ông ấy, giúp ông ấy chẻ củi xong, là thật vãng sanh. ông ấy yêu cầu,hi vọng cho vài người niệm Phật tiễn đưa ông ấy vãng sanh, dĩ nhiên là mọi người đều rất hoan hỷ. những người tiễn đưa vãng sanh nói với ông ấy, trước đây những người niệm Phật biết ngày giờ vãng sanh thật sự đều để lại vài bài thơ hay vài bài kệ tặng cho những người tiễn đưa vãng sanh làm kỷ niệm, họ nói: Tu Vô Pháp sư ông cũng phải tặng cho chúng tôi vài bài thơ hoặc vài bài kệ Tu Vô nói: tôi là người thô thiển, không có ăn học,không biết chữ, sau khi xuất gia đều làm những việc khổ hạnh,khổ nhọc tôi không biết làm thơ cũng không biết đặt kệ nếu như các ngài đã hỏi thì tôi có 1 câu để tặng các ngài ” nói được mà không làm được,không phải trí tuệ thật” mọi người nghe rồi,cảm thấy 2 câu nói này rất hay và thiết thực,niệm Phật tiễn ông ấy đi. niệm không bao lâu,ông ấy ra đi, là ra đi thực sự. những người niệm Phật vãng sanh này an nhàn tự tại mà ra đi. hình như họ đều là những người không biết chữ, điều kiện sẵn có của họ chúng ta quan sát kỹ sẽ thấy là thật thà,nghe lời,làm thật, đây là những điều mà những người niệm Phật , những người tự tại vãng sanh thành tựu,là bí quyết của họ. đương nhiên,cái điều kiện sẵn có này cửa ải quan trọng nhất đó là buông xả triệt để, đối với cái Thế giới này không còn tơ hào lưu luyến, như vậy mới được. nếu như còn tơ hào lưu luyến, còn có vấn vương,thì sẽ không đi được, nếu như là thọ mạng đã đến vẫn sẽ tiếp tục ở trong lục đạo luân hồi. chúng ta hôm nay từ chiếc đĩa phim này nhìn thấy được ngôi chùa nhỏ Lai Phật tự, là ngôi chùa nhỏ ở nông thôn không ai coi ra gì, có ba vị đại đức niệm Phật mà tự tại vãng sanh. người thứ đầu tiên để lại là toàn thân xá lợi, phụng thờ tại trong ngôi chùa nhỏ này. người thứ hai,là mẫu thân của lão hòa thượng Hải Hiền, ra đi lúc 86 tuổi, tám năm sau,lão hòa thượng muốn cải táng lại cho bà, đào mộ quyệt lên thì không còn thấy thi thể nữa,thật không thấy nữa. trong quan tài chỉ còn lại mấy cây đinh, là đinh đóng quan tài. lão hòa thượng vãng sanh cho đến nay đã được1 năm ngài vãng sanh vào năm 2013, trong tương lai lão hòa thượng có phải để lại sẽ là xá lợi? vẫn sẽ là toàn thân xá lợi? bây giờ chưa có mở vò ra vẫn còn chưa biết, KHẠP quả là quá phi thường! chỉ dựa vào tín nguyện trì danh bốn chữ này mà thành tựu thì bất khả tư nghì đây là tấm gương sáng cho những người niệm Phật ở trong thời kỳ mạt pháp vãng sanh đến thế giới Cực Lạc để thành Phật quả là kiếp này không uổng phí chúng ta đến đây, công đức viên mãn. “công siêu lũy kiếp” siêu là siêu việt,công là công phu,công đức. nếu như tu hành theo các phương pháp bình thường giáo cũng được,thiền cũng được,chỉ quán cũng được tu các pháp môn khác có thể cùng với những người vãng sanh địa vị bình đẳng, vậy thì phải tu rất là nhiều kiếp,thời gian rất là dài. phải tu hành nhiều đời nhiều kiếp mới có thể chứng đắc. vãng sanh đến thế giới Cực Lạc tu theo pháp môn này vượt qua họ,vượt qua họ rất nhiều rất nhiều, đây là chân tướng sự thật chúng ta phải biết “vãng sanh Cực Lạc” là sanh đến thế giới Cực Lạc thì sẽ chứng đắc tam chủng bất thối chuyển, A La Hán không thể bì, Tam Thừa Bồ Tát không thể bì trong một đời là thành tựu chúng tôi nghe Đàm lão pháp sư nói, Tu Vô Pháp sư cùng với đồ đệ là thợ vá nồi của Đế Nhàn lão pháp sư người thợ vá nồi là 3 năm vãng sanh bà cụ ở xã Tướng Quân Đài Loan cũng là 3 năm còn bà cụ ở San Francisco tôi không quen,nên tôi không rõ bà ấy niệm Phật được bao lâu. tôi tin tưởng công phu niệm Phật là có hiệu quả nhất, phải nói là khoảng thời gian tôi ở Hoa Kỳ người Trung Hoa khi đó ở Hoa Kỳ sống tập trung rất ít, chỗ ở đều có khoảng cách tương đối xa nói cách khác,đi ra ngoài đều phải lái xe. bà cụ nhất định là không biết lái xe, niệm Phật là tốt nhất,không có ai quấy nhiễu, nhất tâm chuyên chú,cũng giống như là bế quan vậy, cho nên công phu sẽ rất dễ dàng đạt hiệu quả, rất dễ dàng thành tựu. nếu như có đồng tu đạo hữu nhiều rồi vẫn còn muốn tán gẫu,vẫn còn thích nói chuyện phiếm tâm rất khó chuyên nhất. hoàn cảnh đó ở Hoa Kỳ tôi hiểu cho nên công phu của bà ấy dễ dàng đạt được hiệu quả nhất định là đã gặp Phật, không gặp Phật là không biết ngày nào đi. khi gặp được Phật,Phật đến nói cho bạn biết hẹn chắc thời gian với bạn ngày nào sẽ đến tiếp dẫn bạn, đến lúc đó là đi thật,không có giả chút nào. “vãng sanh Cực Lạc,kính đăng bất thối” “nhược vô như thị là vi diệu pháp môn” kẻ phàm phu làm sao có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi? “biển sanh tử nghiệp” tức là lục đạo luân hồi, ” bỉ ngạn” là thế giới Tây Phương Cực Lạc đến được thế giới Cực Lạc, bạn đích thân tiếp nhận sự dạy dỗ của Phật A Di Đà, khi gặp mặt được Phật A Di Đà rồi chúng ta tin tưởng rằng không cần thời gian dài lắm, bạn sẽ chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề cái duyên này rất là thù thắng! chúng ta ở trong lục đạo không biết đã trải qua biết bao nhiêu kiếp, thời gian quá dài, đời đời kiếp kiếp thiên đường đã đi qua,địa ngục đã chờ đợi qua, thiên đường và địa ngục thời gian đều rất dài, nẻo đường nào chúng ta cũng đều đã đi qua không cách nào thoát ly được gặp được pháp môn này tức là cơ hội đã đến ” cố đại từ bi phụ,lưỡng độ đạo sư” đại từ bi phụ là người chúng ta cảm kích, là chỉ Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật cũng là bao gồm Phật Di Đà ở thế giới Cực Lạc cả hai vị đều là người cha đại từ bi, lưỡng độ đạo sư. “mẫn niệm ngã đẳng” họ từ bi,thương xót chúng ta trong lục đạo quá khổ “khai thử Tịnh Độ pháp môn, diệu hiển khổ lạc nhị độ, kích dương trầm mê chúng sanh” đây hoàn toàn là ân đức của Đức Di Đà, khai thông tín nguyện trì danh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,cái pháp môn này thật là vi diệu tỏ rõ sướng khổ hai nơi khác nhau thế giới Cực Lạc là sung sướng,thế giới Ta Bà là đau khổ Phật nói với chúng ta rằng bát khổ,tam khổ, đây là đem những cảm nhận của chúng ta tổng kết lại thành 2 loại bát khổ là chuyên nói về nhân gian hiện tại chúng ta đang ở nẻo nhân đạo có sanh lão bệnh tử, mỗi người chúng ta đều không thể tránh khỏi ngoài cái sanh lão bệnh tử, có cầu bất đắc có ái biệt ly có oán tăng hội, có ngũ âm xí thịnh đời đời kiếp kiếp không thể thoát ly được, những cái khổ đau thì ở thế giới Cực Lạc hoàn toàn không có. chúng ta sống ở cái thế giới này, lúc còn trẻ thì không có cảm nhận được, đến lúc ở tuổi bóng xế thì bạn sẽ cảm nhận được, thân thể suy yếu, động tác không còn nhanh nhẹn nữa, trí nhớ cũng giảm sút những cái gì học lúc trước đều quên hết, bây giờ nói với bạn trong nháy mắt bạn cũng sẽ quên hết nếu như bản thân không có phước báo, cuộc sống sẽ rất là đau khổ, chúng tôi nhìn thấy biết bao nhiêu người già khi tuổi già trong nhà không ai chăm sóc, đều đưa đến viện dưỡng lão. trong viện dưỡng lão cuộc sống vật chất miễn cưỡng có thế sống qua ngày còn cuộc sống tinh thần thì hoàn toàn không có, những cụ già sống trong viện dưỡng lão thật là tội nghiệp họ ở đó làm những gì? người Trung Hoa có câu ngạn ngữ nói là “ngồi ăn để chờ chết” vậy còn gì là cuộc sống năm 1982 tôi ở San Francisco California giảng kinh ở trong một chung cư dưỡng lão giảng hết một tuần lễ, tôi có cảm xúc rất sâu sắc tu hành tôn giáo loại viện dưỡng lão này là thích hợp nhất cho nên tôi mới nghĩ đến thôn Di Đà những người già sẽ cùng chung sống với nhau, trong cái thôn này có một cái niệm Phật đường mỗi ngày giảng kinh cho họ nghe và dẫn dắt mọi người cùng nhau niệm Phật, đó là đạo tràng lý tưởng nhất. những người già sẽ thật sự hiểu rõ,thật sự giác ngộ nhất tâm chuyên niệm, 3 năm thì có thể tự tại vãng sanh, đó là việc tốt. Cho nên phải hiểu rõ sướng và khổ, thì bạn sẽ hạ quyết tâm tôi phải vãng sanh thế giới Cực Lạc sự tuyệt vời ở thế giới Cực Lạc là thật cùng với thế giới này của chúng ta hoàn toàn khác nhau. thế giới này của chúng ta thân thể con người là vật chất, cho nên cần phải ăn uống, phải có chất dinh dưỡng thế giới Cực Lạc thân thể không phải là vật chất, là pháp tánh biến ra pháp tánh không cần ăn uống, bạn nghĩ xem giảm thiểu đi biết bao nhiêu là chuyện pháp tánh thanh tịnh,vĩnh viễn sẽ không có ô nhiễm, nói cách khác là ở thế giới Tây Phương Cực Lạc không cần phải tắm rửa,không cần phải rửa mặt tại sao? Mãi mãi sạch sẽ,chẳng vướng bụi trần, bạn nghĩ xem cái này tự tại biết bao, bớt đi được rất nhiều chuyện hoàn cảnh sống ở thế giới Cực Lạc gọi là pháp tánh độ hoàn cảnh sống của chúng ta hiện tại gọi là pháp tướng không phải là pháp tánh, tướng là có sanh có diệt,tánh là bất sanh bất diệt, cho nên những người đến được thế giới Cực Lạc là được vô lượng thọ không có sanh lão bệnh tử, đến thế giới đó thì sẽ hoa khai kiến Phật, diện mạo sẽ hoàn toàn giống như Phật A Di Đà vậy. trong bộ kinh này giới thiệu rất tường tận, chúng ta thấy rồi sẽ thật hoan hỷ. cái thân xác này thật là phiền toái, còn thân thể ở nơi đó thì vi diệu thơm tho sạch sẽ đầy đủ sáu loại thần thông, trí huệ đức tướng là cái vốn có của tự tánh tất cả đều hiển thị ra hết. Phật A Di Đà thời thời khắc khắc biến hóa thân vô lượng vô biên cái hóa thân này cũng không có ngừng nghỉ, Tại vì sao? tiếp dẫn những người có công phu niệm Phật thành thục ở thập phương ngài đi tiếp dẫn. Phật A Di Đà không đến tiếp dẫn, sẽ không ai biết Tây Phương ở đâu, ngài nhất định đến tiếp dẫn.Ngài phát cái nguyện này, mỗi một chúng sanh vãng sanh, ngài phải hóa một thân để đi tiếp dẫn họ cho nên cái hóa thân của Phật Di Đà là vô lượng vô biên vô số vô tận ngài có bản lĩnh to lớn như vậy. mỗi một người vãng sanh đến thế giới Cực Lạc, hoa sen sẽ nở ra, người vãng sanh sẽ hiện thân, cái thân đó giống như là Phật A Di Đà cũng có cái năng lực này, hóa thân vô lượng vô biên. để làm gì? Thế giới vô lượng vô biên, chư Phật Như Lai vô lượng vô biên, hóa thân vô lượng đi cúng dường chư Phật, cúng dường chư Phật là tu phước, nghe Phật giảng kinh thuyết pháp là tu huệ, những cái thân này đều có tác dụng, đến thập phương thế giới phước huệ song tu. cho nên thế giới Cực Lạc tu một ngày, bằng tu vô lượng kiếp ở thế giới của chúng ta đều không bằng ở trên đó một ngày, bạn nói có thể không đi sao? có thể không mau lẹ để đi sao? còn chậm trễ gì nữa. phía dưới là nói thí dụ, ” thử” là cái thế giới này của chúng ta, “đại hỏa tụ”, những ngày tháng của thế giới này rất khó qua, cái hỏa này là nói cái phiền não. ” bỉ thanh lương trì” thế giới Cực Lạc thanh lương trì rất tự tại,rất dễ chịu. “bảo liên tại tiền” chúng ta tiến về phía trước,hoa sen đến tiếp dẫn chúng ta. “đao sơn tại hậu” nếu như chúng ta không đến được thế giới Cực Lạc thì đó tức là địa ngục,là tam đồ, đao sơn kiếm thụ là địa ngục. chúng ta phải đi đâu? nhất định phải suy nghĩ thật kỹ càng ta sống tại cái thế gian này nhiều năm như vậy, tạo nên những nghiệp gì? là thiện nghiệp,là ác nghiệp? khởi tâm động niệm,ngôn ngữ tạo tác những gì vì chúng sanh là thiện nghiệp, những gì vì bản thân chính là ác nghiệp. mỗi ngày chúng ta có bao nhiêu ý niệm vì xã hội,vì chúng sanh, lại có bao nhiêu ý niệm vì bản thân? lục đạo luân hồi là do nghiệp lực dẫn bạn đi, cho nên phải tự mình thật tâm phản tỉnh, đại khái kiếp sau đi con đường nào thì sẽ biết rõ. mấy năm trước cũng là tôi mời một người bạn học cũ của chúng tôi, anh ta là họa sỹ đây là danh họa thời đương đại, tên Giang Dật Tử, họa một bức địa ngục biến tướng đồ, là chiếu theo < Ngọc lịch bảo sao> của Đạo giáo mà họa ra,họa rất đẹp, anh ta dùng hết thời gian một năm, là công bút họa. sau khi họa ra bức tranh này, lúc đó tôi đang ở Úc châu, tôi đột nhiên nghĩ ra, trong kinh Phật Phật có giảng tình hình ở địa ngục cũng khá là nhiều, Phật môn không có một quyển chuyên họa nào để nói về chuyện này. cho nên tôi tìm đến mấy người bạn học tra , đem lục qua một lần từ đầu đến cuối, tìm ra trong 25 loại sách nói về địa ngục, hơn nữa nói rất tường tận. cho nên chúng tôi liền đem những thứ này chép ra và soạn thành một quyển, tôi đặt tựa đề là< Chư Kinh Phật Thuyết Địa Ngục Tập Yếu>. lúc đó trong lòng nghĩ rằng sau này nếu có gặp được cái duyên này, thì sẽ đem cái địa ngục như trong kinh Phật nói họa thành một bức biến tướng đồ. cái nhân quả trong kinh Phật nói rất rõ ràng, trong thì nói nhiều về quả báo, cái quả là do tội nghiệp gì thì nói có thiếu sót có một số có chú thích,có một số thì không có, trong kinh Phật thì đều có, cái nhân gì thì cảm ứng cái quả gì. nhất là ở thời đại này giáo hóa chúng sanh thời đại này để họ quay đầu là bờ, dựa hết vào luân lý nhân quả và chân tướng sự thât, phải dạy cái này. luân lý phải làm rõ ràng, để họ không hoài nghi, tin có thật sự sự tướng nhìn được tường tận,họ sẽ sợ tâm e sợ sẽ sinh ra,không dám làm chuyện ác nữa. luân lý đạo đức là khuyên người ngại ngùng làm chuyện ác nhưng công danh lợi lộc đặt ngay trước mặt có khi sẽ động lòng,sẽ không giữ được. nhưng hiểu được nhân quả thì họ có thể giữ được, tại sao? Vì họ sợ nghĩ đến nếu tôi làm chuyện này, sau khi chết sẽ đọa địa ngục, họ sẽ sợ cho nên giáo dục tôn giáo đối với thế đạo nhân tâm đối với sự an nguy của xã hội có cống hiến rất lớn, phải tìm lại nó, không tìm lại nó, xã hội sẽ trở nên động loạn là vô phương hóa giải. ” ư thị tự nhiên sanh khởi thắng nguyện”, thắng là thù thắng, cái nguyện thù thắng là gì? cầu sanh thế giới Cực Lạc, cái nguyện này rất thù thắng. phía dưới nói “yếm ly Ta Bà,cầu sanh Cực Lạc”. bộ kinh Vô Lượng Thọ này, thêm vào là tập chú của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, thì có thể khởi cái tác dụng này. nói thế gian này của chúng ta khổ, trong bộ kinh này có một đoạn văn lớn có trọng lượng rất lớn, từ phẩm 32 đến phẩm 37, chuyên thuyết, phụ đới thuyết toàn kinh từ đầu đến cuối nói rất ít, nói chuyên môn đó là có sáu phẩm kinh rất quan trọng. “kí sanh tín nguyện,cánh trì danh hiệu, tiện đắc độ thoát”, sự học tập của bạn sẽ thành công. nếu như đã tin thật,tin tưởng rồi,thì thật muốn đi, cách để đi chính là một câu danh hiệu, trong kinh nói rất rõ ràng chúng ta thấy được có rất nhiều rất nhiều người tự tại vãng sanh, và biết trước ngày giờ đích thực một đời họ chính là một câu Phật hiệu ngoại trừ câu Phật hiệu này ra họ cái gì cũng không có. cho nên bản thân chúng ta phải giác ngộ, không thể không buông xả vạn duyên, nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật. nếu như không làm cách như vậy e rằng chúng ta khi đến lúc lâm chung vẫn sẽ ở trong lục đạo luân hồi, vậy là uổng công tu một kiếp này. các bạn không sợ nhưng tôi sợ, các bạn không để tâm,nhưng tôi để tâm, có lẽ các bạn còn trẻ,còn có thời gian, ở tuổi tác của tôi thì không còn thời gian nữa. những người trẻ tuổi ở trong và ngoài nước nhiệt tâm với văn hóa truyền thống rất nhiều, các bạn đến hỏi tôi,tôi nói tôi thích những hoạt động của các bạn thì tôi không thể tham gia, vì tôi không có thời gian tham gia, tôi phải học theo lão hòa thượng Hải Hiền, nhất tâm chuyên niệm Phật A Di Đà . khi cái thân thể này còn, tôi chỉ chuyên học bộ kinh này và bộ tập chú này, mỗi ngày dành một ít thời giờ để chia sẽ với mọi người. chúng ta lợi dụng khoa học kỹ thuật hiện tại, dùng truyền hình vệ tinh,dùng internet cho nên không cần ở bên nhau, ở gần bên nhau là phải có đại phước báo, chúng ta phước mỏng chướng sâu, không có cái phước báo lớn đó,không có đạo trường, người đông rồi đến đây sẽ không có chỗ ở. cho nên mỗi người ở một nơi của mình, mỗi ngày nghe kinh ít nhất 2 tiếng thông thường đều là 4 tiếng, mở kênh ti vi lên đều có thể thu được. cái này là đời trước không có cách nào làm được, đời này chúng ta làm được. trong một đời này nhất định phải đem chuyện vãng sanh thế giới Cực Lạc xem như là một chuyện lớn duy nhất trong cuộc đời này của chúng ta. vì thế mọi người lập trường học, khắp nơi đều muốn mở học viện Hán học, tôi thích,tôi tán thán, tôi không thể tham gia công việc nếu như sức khỏe tôi vẫn còn tốt, học viện Hán học thành lập học viện Hán học là có Nho Thích Đạo, tôi có thể đi dạy một môn, đó chính là kinh Vô Lượng Thọ, những cái khác tôi không đụng tới. cuộc đời này của tôi chỉ một bộ kinh, một câu A Di Đà Phật, quyết định cầu sanh thế giới Cực Lạc. ” sanh bỉ quốc dĩ”, sanh đến thế giới Cực Lạc. “kiến Phật văn pháp”, không những gặp Phật A Di Đà, đồng thời cũng gặp được thập phương tất cả chư Phật Như Lai, không những nghe Phật A Di Đà thuyết pháp, đồng thời nghe tất cả chư Phật thuyết pháp. ” đắc vô thượng ngộ” vô thượng ngộ tức là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mà chúng ta thường nói. trí tuệ,thần thông,đạo lực cùng với Phật như nhau. cùng với vị Phật nào? Chính là cùng với Phật A Di Đà, đệ tử của Phật A Di Đà đương nhiên sẽ cùng với Phật A Di Đà như nhau. ” do hữu niệm nhi nhập vô niệm”, trước khi vãng sanh hữu niệm, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thì chứng đắc vô niệm. “nhân vãng sanh nhi khế vô sanh”, trước khi vãng sanh là có sanh tử,có luân hồi, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thì sanh tử luân hồi sẽ liễu được,không còn nữa, thế giới đó là bất sanh bất diêt. “đốn ngộ thử tâm,bổn lai bình đẳng”, đây chính là đề kinh của bổn kinh thanh tịnh bình đẳng giác. thanh tịnh bình đẳng giác là ai? tức là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà có một biệt hiệu gọi là Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác. cho nên nói thử tâm tức là Phật A Di Đà Phật A Di Đà chính là thử tâm. đoạn phía dưới, ” sư nguyên hiểu”, vị pháp sư này là người Hàn Quốc, vào thời Đường du học ở Trung Quốc, học trò của đại sư Thiện Đạo, sau khi học xong về nước, truyền bá Tịnh Độ Tông “tứ thập bát nguyện,tiên vi phàm phu, kiêm vi Tam Thừa Thánh Nhân”. bạn quan sát kỹ 48 nguyện của Phật A Di Đà, quả đúng là nguyện nào cũng đều là vì nghĩ đến chúng sanh lục đạo khổ nạn, không phải là vì ai khác. từ chỗ này chúng ta quán triệt được, đức Di Đà khi còn ở nơi này phát ra đại nguyện lúc đó ngài vẫn còn chưa thành Phật, ngài xuất gia làm tỳ kheo, tỳ kheo Pháp Tạng là đức hiệu của ngài. vị này có trí tuệ,có tâm đại từ bi, thấy được trong sát độ của chư Phật mười phương thế giới chúng sanh ở lục đạo quá đáng thương, mê muội quá sâu, nghiệp chướng quá nặng, muốn giúp đỡ họ vượt qua lục đạo thật khó, cho nên ngài hướng về thầy của ngài là Thế Gian Tự Tại Vương Phật thỉnh giáo, làm thế nào có thể thỏa mãn nguyện vọng độ chúng sanh của ngài. thầy dạy ngài một cách, dạy ngài đi tham học, con có thể vào trong tất cả sát độ của chư Phật mười phương để viếng thăm dùng lời nói hiện tại nói con đi khảo sát,con đi học tập, trong sát độ của chư Phật tốt đẹp con nên ghi nhớ,con phải học tập, trong sát độ của chư Phật không tốt đẹp con có thể không cần, học cái hay của người,không học khuyết điểm của người, tạo dựng đạo tràng của riêng con đây chính là nguồn gốc của thế giới Cực Lạc. không phải người nào vọng tưởng mà nghĩ ra, không phải vậy tỳ kheo Pháp Tạng dùng hết thời gian 5 kiếp không có nói tiểu kiếp,trung kiếp, kiếp ở đây tức là đại kiếp, thời gian năm đại kiếp khảo sát tất cả sát độ của chư Phật mười phương, tổng kết 48 nguyện, cũng tức là nói sự chọn lựa của ngài đối với sát độ của chư Phật mười phương thế giới ngài chọn là những thứ gì?ngải bỏ là những thứ gì trong nguyện thứ nhất chúng ta nhìn thấy được ngài ngài bỏ tam ác đạo,tam ác đạo bất thiện. cho nên thế giới Cực Lạc có phàm Thánh đồng cư độ, nhưng mà nó chỉ có hai đường tam ác đạo thêm vào nữa là Tu La đạo thế giới Cực Lạc không có A Tu La, không có La sát không có ngạ quỷ,súc sanh,địa ngục. chúng ta có thể hiểu không có quả tất nhiên sẽ không có nhân có nhân thì sẽ có quả. thế giới Cực Lạc toàn là Bồ Tát, những người trong phàm Thánh đồng cư độ cũng là Bồ Tát hơn nữa đều là pháp thân Bồ Tát, hoàn toàn là sự gia trì của oai thần 48 nguyện làm cho mỗi một chúng sanh vãng sanh đến thế giới Cực Lạc đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát A Duy Việt Trí là bất thối chuyển. Sư Nguyên Hiểu ở đây nói rất hay, Phật A Di Đà phổ độ chúng sanh,độ phàm phu trước, tại sao? Vì họ quá khổ, họ cần cấp thiết kiêm vi tam thừa Thánh Nhân tam thừa Thánh Nhân là chỉ Thanh Văn, Thanh Văn,Duyên Giác,Quyền Giáo Bồ Tát Quyền Giáo Bồ Tát tức là Bồ Tát không có minh tâm kiến tánh, thứ tự độ thoát họ là ưu tiên. “khả kiến Tịnh Độ chi diệu, thủ vi phàm phu đắc độ.” chúng ta thấy được câu này thì hoan hỷ, Tại sao? Chúng ta có phần, chúng ta là phàm phu, Phật A Di Đà độ chúng sanh chúng ta là ưu tiên hàng đầu. những gì trong kinh Vô Lượng Thọ nói, tuyệt đối không phải là lời giả dối, quyết định có thể tin tưởng, chúng ta quyết định phải tranh thủ đoạn phía dưới này nói, “Tha lực diệu pháp,thiện hộ hành nhân”. đoạn này chúng ta đơn giản hóa nó, chính là trong chú giải. “mạt thế tu hành” mạt thế là thời thế hiện tại, “đa chư chướng nan” chướng ngại rất nhiều,khó khăn trùng trùng, còn có “âm ma quấy nhiễu”, có một số chúng ta có thể cảm nhận được, có một số thì không cảm nhận được. hiện tại cái thế gian này, có rất nhiều bạn đồng tu đều nhận thấy được làm việc tốt khó,rất khó khăn. bạn đối xử họ tốt họ không tiếp nhận, họ hoài nghi bạn bạn tốt với tôi như vậy nhất định bạn có ý đồ gì, có mục đích gì với tôi tất cả đều bị họ nghĩ lệch đi hết, và tìm đủ mọi cách để đề phòng bạn, không thể tiếp nhận. bạn muốn làm việc xấu thì rất dễ giúp bạn làm rất là nhiều, làm việc xấu thì thuận buồm xuôi gió không có chướng ngại chúng ta gặp phải một thời đại như vậy, nếu như không có sự rèn luyện nhẫn nhục tương đối, thì bạn sẽ chẳng còn gì. tôi xuất gia,lúc ban đầu không có ý xuất gia, đại sư Chương Gia khuyên tôi. tại sao ông ấy khuyên tôi? vì ở Đài Loan tôi không có nhà, không có cái nổi lo về gia đình sau này,chỉ có một thân. thầy khuyên tôi xuất gia, muốn tôi học Phật Thích Ca Mâu Ni cho tôi xem một quyển sách, < Thích Ca Phổ>, 2 loại, có thể nói đây là từ trong kinh Phật trích lục mà ra tiểu sử của Phật Thích Ca Mâu Ni. thầy nói với tôi,con muốn học Phật, điều đầu tiên là phải hiểu biết về Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu như con không hiểu biết về ngài,thì con sẽ đi sai đường, người hiện tại nói bạn sẽ đi đường vòng. tôi nghe câu nói này cảm thấy rất có lý học Phật thì nhất định phải hiểu biết về Phật. sau khi học rồi mới phát hiện, Thích Ca Mâu Ni Phật không phải là tôn giáo, hiện tại thì gọi là tôn giáo, đây tức là hiểu sai, đây tức là ma chướng. Phật giáo truyền vào Trung Hoa cũng không phải là tôn giáo, nó cùng với Nho giáo của Trung Hoa rất giống nhau, là một trường phái,là một loại giáo dục, chúng ta ngày nay gọi Nho là giáo dục Khổng Mạnh, Phật là sự giáo dục của Phật Thích Ca Mâu Ni. cho nên đối với cách xưng hô của Phật giáo, tôi gọi là giáo dục Phật Đà, tôi không cho rằng nó là tôn giáo. trong tôn giáo điều kiện đầu tiên nhất định phải có một đấng tạo hóa, là thần thánh sáng tạo ra vũ trụ,trong Phật giáo thì không có. trong Phật giáo người cao nhất gọi là Phật Đà, Phật Đà có nghĩa là gì? Là người giác ngộ, cùng với ý nghĩa chữ “Thánh” của Thánh Nhân Trung Hoa rất gần gũi. chữ Thánh này của Trung Hoa có nghĩa là hiểu rõ đạo lý và sự tướng của chân tướng vũ trụ, đây gọi là Thánh, Thánh nhân. họ không phải là thần,họ cũng không phải tiên, nói một cách khác, họ là những người hiểu rõ triệt để chân tướng nhân sinh vũ trụ thì gọi là Phật Đà. từ trên mặt chữ dịch thành ý nghĩa tiếng Hoa, là giác giả, tức là người giác ngộ làm thế nào nó lại trở thành tôn giáo? nhưng Phật giáo hiện tại thật sự đã trở thành tôn giáo, kinh sám pháp sự,phục vụ cho người chết. năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, giảng kinh dạy học,tức là mở lớp dạy học, là vì người sống mà phục vụ, không có nghe nói qua phục vụ cho người chết sau khi ngài khai ngộ giảng dạy kinh giáo 49 năm. ngài mở lớp,dùng cách nói của người hiện tại là ngài dạy học có kế hoạch có hệ thống, trước mở lớp học tiểu học,sau mở lớp học trung học, lại mở tiếp lớp học đại học,sau đó mở viện nghiên cứu ngài cứ tiếp tục mở lớp như thế. bạn xem một đời của ngài,sau khi khai ngộ ngài ở Lộc Dã Uyển giảng Tứ Đế giảng , 12 năm 12 năm này là tiểu học. 12 năm A Hàm Kinh kết thúc,giảng Phương Đẳng, Phương Đẳng cũng giống như là trung học, phía trước thông Tiểu Thừa,phía sau thông Đại Thừa, cũng tức là lớp dự bị Đại Thừa. Đại Thừa cũng giống như là đại học, đây là trung học đây đều thuộc về sự giáo dục nền tảng. bạn xem, sự giáo dục nền tảng của Phật tiểu học,trung học 12 năm, tiểu học 12 năm,trung học 8 năm đại học,đây chính là giảng Bát Nhã, đại học 22 năm dĩ nhiên,thời gian dài như vậy nhất định là bộ phận giảng dạy quan trọng nhất của Phật Thích Ca, Bát Nhã là trí tuệ 8 năm sau cùng giảng kinh Pháp Hoa, đó cũng giống như là viện nghiên cứu, đem phía trước tất cả đều hội quy đến Nhất Thừa. phía trước bạn xem Tiểu Thừa,Đại Thừa, đến sau cùng Pháp Hoa quy nhất,gọi là Nhất Thừa. Nhất Thừa là gì? Mục tiêu sau cùng đều là hi vọng mọi người ai ai cũng chứng đắc Bát Niết Bàn, đây mới lấy được văn bằng tốt nghiệp. Bát Niết Bàn là tiếng Ấn Độ, dịch thành nghĩa của tiếng Hoa là viên tịch,diệt độ. diệt là gì? Phiền não,sanh tử tất cả đều diệt sạch hết, bất sanh bất diệt,đây là Niết Bàn, cũng chính là siêu việt lục đạo, siêu việt mười pháp giới. cho nên nó là giáo học. tôi vào Phật môn là từ triết học mà nhập môn, từ trong triết học mà nhận thức Phật pháp, cho nên thầy muốn tôi xuất gia, muốn tôi học Phật Thích Ca Mâu Ni cái này tôi rất có hứng thú. mặc dù là một đời phiêu bạt Phật Thích Ca Mâu Ni một đời trải qua cuộc sống phiêu bạt, Phật Thích Ca một đời không có đạo tràng ngày ăn một bửa,đêm ngủ dưới cây. nên nhớ rằng, đêm ngủ dưới cây, ngày thứ hai lại đi nơi khác không ở lại nơi này, đây là biểu thị cái gì? Biểu thị sự buông xả tất cả. ta ở dưới gốc cây này ngủ qua một đêm, cây này rất to, bóng cây rất tốt ngày mai,ngày mai lại ở tức là tham luyến, ta ngày mai đổi sang nơi khác,không ở lại chỗ này chỉ ở một đêm, đối với hoàn cảnh một chút tham luyến cũng không có đối đãi bình đẳng như nhau,đây mới là đúng. Ma, bây giờ ma rất là nhiều, khắp nơi đều có, cảm nhận được rất là rõ ràng,phải làm sao? kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta, “bất tác Thánh tâm,danh thiện cảnh giới; nhược tác Thánh giải,tức thụ quần tà” tiếp xúc với họ,cũng không nên đắc tội họ họ nói cái gì,nghe rồi bỏ qua, đừng để ở trong tâm mới là đúng, nếu bạn để trong tâm những gì mà họ nói, thì bạn sai,thì bạn là thụ quần tà. “khả kiến hành nhân sảo hữu chấp chước, tiện thất chánh kiến,tức nhập ma đồ, cầu thăng phản giáng,thậm chí đọa nhập nê lê.” những gì mà Phật giáo huấn chúng ta nên ghi nhớ những cái nghe được bên ngoài không thuộc cái Phật dạy đều không nên để trong tâm công phu thật sự đã đạt. lão pháp sư Hải Hiền thị phạm cho chúng thấy, trong tâm chỉ có câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra tất cả đều buông xả đều không nên để trong tâm bao gồm cái gì? kinh Vô Lượng Thọ cũng không nên để trong tâm. chúng ta phải học nó,dùng nó làm công cụ, giúp chúng ta nhận thức rõ ràng hơn,minh bạch hơn nhưng không thể để trong tâm, để ở trong tâm là sai, chỉ cho phép một câu A Di Đà Phật để trong tâm lão pháp sư thị phạm cho chúng ta xem làm ra tấm gương đại triệt đại ngộ cho chúng ta xem thời gian hôm nay đã đến rồi chúng ta tạm học đến đây. nói thế gian này của chúng ta khổ, trong bộ kinh này có một đoạn văn lớn có trọng lượng rất lớn, từ phẩm 32 đến phẩm 37, chuyên thuyết, phụ đới thuyết toàn kinh từ đầu đến cuối nói rất ít, nói chuyên môn đó là có sáu phẩm kinh rất quan trọng. “kí sanh tín nguyện,cánh trì danh hiệu, tiện đắc độ thoát”, sự học tập của bạn sẽ thành công. nếu như đã tin thật,tin tưởng rồi,thì thật muốn đi, cách để đi chính là một câu danh hiệu, trong kinh nói rất rõ ràng chúng ta thấy được có rất nhiều rất nhiều người tự tại vãng sanh, và biết trước ngày giờ đích thực một đời họ chính là một câu Phật hiệu ngoại trừ câu Phật hiệu này ra họ cái gì cũng không có. cho nên bản thân chúng ta phải giác ngộ, không thể không buông xả vạn duyên, nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật. nếu như không làm cách như vậy e rằng chúng ta khi đến lúc lâm chung vẫn sẽ ở trong lục đạo luân hồi, vậy là uổng công tu một kiếp này. các bạn không sợ nhưng tôi sợ, các bạn không để tâm,nhưng tôi để tâm, có lẽ các bạn còn trẻ,còn có thời gian, ở tuổi tác của tôi thì không còn thời gian nữa. những người trẻ tuổi ở trong và ngoài nước nhiệt tâm với văn hóa truyền thống rất nhiều, các bạn đến hỏi tôi,tôi nói tôi thích những hoạt động của các bạn thì tôi không thể tham gia, vì tôi không có thời gian tham gia, tôi phải học theo lão hòa thượng Hải Hiền, nhất tâm chuyên niệm Phật A Di Đà . khi cái thân thể này còn, tôi chỉ chuyên học bộ kinh này và bộ tập chú này, mỗi ngày dành một ít thời giờ để chia sẽ với mọi người. chúng ta lợi dụng khoa học kỹ thuật hiện tại, dùng truyền hình vệ tinh,dùng internet cho nên không cần ở bên nhau, ở gần bên nhau là phải có đại phước báo, chúng ta phước mỏng chướng sâu, không có cái phước báo lớn đó,không có đạo trường, người đông rồi đến đây sẽ không có chỗ ở. cho nên mỗi người ở một nơi của mình, mỗi ngày nghe kinh ít nhất 2 tiếng thông thường đều là 4 tiếng, mở kênh ti vi lên đều có thể thu được. cái này là đời trước không có cách nào làm được, đời này chúng ta làm được. trong một đời này nhất định phải đem chuyện vãng sanh thế giới Cực Lạc xem như là một chuyện lớn duy nhất trong cuộc đời này của chúng ta. vì thế mọi người lập trường học, khắp nơi đều muốn mở học viện Hán học, tôi thích,tôi tán thán, tôi không thể tham gia công việc nếu như sức khỏe tôi vẫn còn tốt, học viện Hán học thành lập học viện Hán học là có Nho Thích Đạo, tôi có thể đi dạy một môn, đó chính là kinh Vô Lượng Thọ, những cái khác tôi không đụng tới. cuộc đời này của tôi chỉ một bộ kinh, một câu A Di Đà Phật, quyết định cầu sanh thế giới Cực Lạc. ” sanh bỉ quốc dĩ”, sanh đến thế giới Cực Lạc. “kiến Phật văn pháp”, không những gặp Phật A Di Đà, đồng thời cũng gặp được thập phương tất cả chư Phật Như Lai, không những nghe Phật A Di Đà thuyết pháp, đồng thời nghe tất cả chư Phật thuyết pháp. ” đắc vô thượng ngộ” vô thượng ngộ tức là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mà chúng ta thường nói. trí tuệ,thần thông,đạo lực cùng với Phật như nhau. cùng với vị Phật nào? Chính là cùng với Phật A Di Đà, đệ tử của Phật A Di Đà đương nhiên sẽ cùng với Phật A Di Đà như nhau. ” do hữu niệm nhi nhập vô niệm”, trước khi vãng sanh hữu niệm, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thì chứng đắc vô niệm. “nhân vãng sanh nhi khế vô sanh”, trước khi vãng sanh là có sanh tử,có luân hồi, vãng sanh đến thế giới Cực Lạc thì sanh tử luân hồi sẽ liễu được,không còn nữa, thế giới đó là bất sanh bất diêt. “đốn ngộ thử tâm,bổn lai bình đẳng”, đây chính là đề kinh của bổn kinh thanh tịnh bình đẳng giác. thanh tịnh bình đẳng giác là ai? tức là Phật A Di Đà, Phật A Di Đà có một biệt hiệu gọi là Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác. cho nên nói thử tâm tức là Phật A Di Đà Phật A Di Đà chính là thử tâm. đoạn phía dưới, ” sư nguyên hiểu”, vị pháp sư này là người Hàn Quốc, vào thời Đường du học ở Trung Quốc, học trò của đại sư Thiện Đạo, sau khi học xong về nước, truyền bá Tịnh Độ Tông “tứ thập bát nguyện,tiên vi phàm phu, kiêm vi Tam Thừa Thánh Nhân”. bạn quan sát kỹ 48 nguyện của Phật A Di Đà, quả đúng là nguyện nào cũng đều là vì nghĩ đến chúng sanh lục đạo khổ nạn, không phải là vì ai khác. từ chỗ này chúng ta quán triệt được, đức Di Đà khi còn ở nơi này phát ra đại nguyện lúc đó ngài vẫn còn chưa thành Phật, ngài xuất gia làm tỳ kheo, tỳ kheo Pháp Tạng là đức hiệu của ngài. vị này có trí tuệ,có tâm đại từ bi, thấy được trong sát độ của chư Phật mười phương thế giới chúng sanh ở lục đạo quá đáng thương, mê muội quá sâu, nghiệp chướng quá nặng, muốn giúp đỡ họ vượt qua lục đạo thật khó, cho nên ngài hướng về thầy của ngài là Thế Gian Tự Tại Vương Phật thỉnh giáo, làm thế nào có thể thỏa mãn nguyện vọng độ chúng sanh của ngài. thầy dạy ngài một cách, dạy ngài đi tham học, con có thể vào trong tất cả sát độ của chư Phật mười phương để viếng thăm dùng lời nói hiện tại nói con đi khảo sát,con đi học tập, trong sát độ của chư Phật tốt đẹp con nên ghi nhớ,con phải học tập, trong sát độ của chư Phật không tốt đẹp con có thể không cần, học cái hay của người,không học khuyết điểm của người, tạo dựng đạo tràng của riêng con đây chính là nguồn gốc của thế giới Cực Lạc. không phải người nào vọng tưởng mà nghĩ ra, không phải vậy tỳ kheo Pháp Tạng dùng hết thời gian 5 kiếp không có nói tiểu kiếp,trung kiếp, kiếp ở đây tức là đại kiếp, thời gian năm đại kiếp khảo sát tất cả sát độ của chư Phật mười phương, tổng kết 48 nguyện, cũng tức là nói sự chọn lựa của ngài đối với sát độ của chư Phật mười phương thế giới ngài chọn là những thứ gì?ngải bỏ là những thứ gì trong nguyện thứ nhất chúng ta nhìn thấy được ngài ngài bỏ tam ác đạo,tam ác đạo bất thiện. cho nên thế giới Cực Lạc có phàm Thánh đồng cư độ, nhưng mà nó chỉ có hai đường tam ác đạo thêm vào nữa là Tu La đạo thế giới Cực Lạc không có A Tu La, không có La sát không có ngạ quỷ,súc sanh,địa ngục. chúng ta có thể hiểu không có quả tất nhiên sẽ không có nhân có nhân thì sẽ có quả. thế giới Cực Lạc toàn là Bồ Tát, những người trong phàm Thánh đồng cư độ cũng là Bồ Tát hơn nữa đều là pháp thân Bồ Tát, hoàn toàn là sự gia trì của oai thần 48 nguyện làm cho mỗi một chúng sanh vãng sanh đến thế giới Cực Lạc đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát A Duy Việt Trí là bất thối chuyển. Sư Nguyên Hiểu ở đây nói rất hay, Phật A Di Đà phổ độ chúng sanh,độ phàm phu trước, tại sao? Vì họ quá khổ, họ cần cấp thiết kiêm vi tam thừa Thánh Nhân tam thừa Thánh Nhân là chỉ Thanh Văn, Thanh Văn,Duyên Giác,Quyền Giáo Bồ Tát Quyền Giáo Bồ Tát tức là Bồ Tát không có minh tâm kiến tánh, thứ tự độ thoát họ là ưu tiên. “khả kiến Tịnh Độ chi diệu, thủ vi phàm phu đắc độ.” chúng ta thấy được câu này thì hoan hỷ, Tại sao? Chúng ta có phần, chúng ta là phàm phu, Phật A Di Đà độ chúng sanh chúng ta là ưu tiên hàng đầu. những gì trong kinh Vô Lượng Thọ nói, tuyệt đối không phải là lời giả dối, quyết định có thể tin tưởng, chúng ta quyết định phải tranh thủ đoạn phía dưới này nói, “Tha lực diệu pháp,thiện hộ hành nhân”. đoạn này chúng ta đơn giản hóa nó, chính là trong chú giải. “mạt thế tu hành” mạt thế là thời thế hiện tại, “đa chư chướng nan” chướng ngại rất nhiều,khó khăn trùng trùng, còn có “âm ma quấy nhiễu”, có một số chúng ta có thể cảm nhận được, có một số thì không cảm nhận được. hiện tại cái thế gian này, có rất nhiều bạn đồng tu đều nhận thấy được làm việc tốt khó,rất khó khăn. bạn đối xử họ tốt họ không tiếp nhận, họ hoài nghi bạn bạn tốt với tôi như vậy nhất định bạn có ý đồ gì, có mục đích gì với tôi tất cả đều bị họ nghĩ lệch đi hết, và tìm đủ mọi cách để đề phòng bạn, không thể tiếp nhận. bạn muốn làm việc xấu thì rất dễ giúp bạn làm rất là nhiều, làm việc xấu thì thuận buồm xuôi gió không có chướng ngại chúng ta gặp phải một thời đại như vậy, nếu như không có sự rèn luyện nhẫn nhục tương đối, thì bạn sẽ chẳng còn gì. tôi xuất gia,lúc ban đầu không có ý xuất gia, đại sư Chương Gia khuyên tôi. tại sao ông ấy khuyên tôi? vì ở Đài Loan tôi không có nhà, không có cái nổi lo về gia đình sau này,chỉ có một thân. thầy khuyên tôi xuất gia, muốn tôi học Phật Thích Ca Mâu Ni cho tôi xem một quyển sách, < Thích Ca Phổ>, 2 loại, có thể nói đây là từ trong kinh Phật trích lục mà ra tiểu sử của Phật Thích Ca Mâu Ni. thầy nói với tôi,con muốn học Phật, điều đầu tiên là phải hiểu biết về Phật Thích Ca Mâu Ni, nếu như con không hiểu biết về ngài,thì con sẽ đi sai đường, người hiện tại nói bạn sẽ đi đường vòng. tôi nghe câu nói này cảm thấy rất có lý học Phật thì nhất định phải hiểu biết về Phật. sau khi học rồi mới phát hiện, Thích Ca Mâu Ni Phật không phải là tôn giáo, hiện tại thì gọi là tôn giáo, đây tức là hiểu sai, đây tức là ma chướng. Phật giáo truyền vào Trung Hoa cũng không phải là tôn giáo, nó cùng với Nho giáo của Trung Hoa rất giống nhau, là một trường phái,là một loại giáo dục, chúng ta ngày nay gọi Nho là giáo dục Khổng Mạnh, Phật là sự giáo dục của Phật Thích Ca Mâu Ni. cho nên đối với cách xưng hô của Phật giáo, tôi gọi là giáo dục Phật Đà, tôi không cho rằng nó là tôn giáo. trong tôn giáo điều kiện đầu tiên nhất định phải có một đấng tạo hóa, là thần thánh sáng tạo ra vũ trụ,trong Phật giáo thì không có. trong Phật giáo người cao nhất gọi là Phật Đà, Phật Đà có nghĩa là gì? Là người giác ngộ, cùng với ý nghĩa chữ “Thánh” của Thánh Nhân Trung Hoa rất gần gũi. chữ Thánh này của Trung Hoa có nghĩa là hiểu rõ đạo lý và sự tướng của chân tướng vũ trụ, đây gọi là Thánh, Thánh nhân. họ không phải là thần,họ cũng không phải tiên, nói một cách khác, họ là những người hiểu rõ triệt để chân tướng nhân sinh vũ trụ thì gọi là Phật Đà. từ trên mặt chữ dịch thành ý nghĩa tiếng Hoa, là giác giả, tức là người giác ngộ làm thế nào nó lại trở thành tôn giáo? nhưng Phật giáo hiện tại thật sự đã trở thành tôn giáo, kinh sám pháp sự,phục vụ cho người chết. năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, giảng kinh dạy học,tức là mở lớp dạy học, là vì người sống mà phục vụ, không có nghe nói qua phục vụ cho người chết sau khi ngài khai ngộ giảng dạy kinh giáo 49 năm. ngài mở lớp,dùng cách nói của người hiện tại là ngài dạy học có kế hoạch có hệ thống, trước mở lớp học tiểu học,sau mở lớp học trung học, lại mở tiếp lớp học đại học,sau đó mở viện nghiên cứu ngài cứ tiếp tục mở lớp như thế. bạn xem một đời của ngài,sau khi khai ngộ ngài ở Lộc Dã Uyển giảng Tứ Đế giảng , 12 năm 12 năm này là tiểu học. 12 năm A Hàm Kinh kết thúc,giảng Phương Đẳng, Phương Đẳng cũng giống như là trung học, phía trước thông Tiểu Thừa,phía sau thông Đại Thừa, cũng tức là lớp dự bị Đại Thừa. Đại Thừa cũng giống như là đại học, đây là trung học đây đều thuộc về sự giáo dục nền tảng. bạn xem, sự giáo dục nền tảng của Phật tiểu học,trung học 12 năm, tiểu học 12 năm,trung học 8 năm đại học,đây chính là giảng Bát Nhã, đại học 22 năm dĩ nhiên,thời gian dài như vậy nhất định là bộ phận giảng dạy quan trọng nhất của Phật Thích Ca, Bát Nhã là trí tuệ 8 năm sau cùng giảng kinh Pháp Hoa, đó cũng giống như là viện nghiên cứu, đem phía trước tất cả đều hội quy đến Nhất Thừa. phía trước bạn xem Tiểu Thừa,Đại Thừa, đến sau cùng Pháp Hoa quy nhất,gọi là Nhất Thừa. Nhất Thừa là gì? Mục tiêu sau cùng đều là hi vọng mọi người ai ai cũng chứng đắc Bát Niết Bàn, đây mới lấy được văn bằng tốt nghiệp. Bát Niết Bàn là tiếng Ấn Độ, dịch thành nghĩa của tiếng Hoa là viên tịch,diệt độ. diệt là gì? Phiền não,sanh tử tất cả đều diệt sạch hết, bất sanh bất diệt,đây là Niết Bàn, cũng chính là siêu việt lục đạo, siêu việt mười pháp giới. cho nên nó là giáo học. tôi vào Phật môn là từ triết học mà nhập môn, từ trong triết học mà nhận thức Phật pháp, cho nên thầy muốn tôi xuất gia, muốn tôi học Phật Thích Ca Mâu Ni cái này tôi rất có hứng thú. mặc dù là một đời phiêu bạt Phật Thích Ca Mâu Ni một đời trải qua cuộc sống phiêu bạt, Phật Thích Ca một đời không có đạo tràng ngày ăn một bửa,đêm ngủ dưới cây. nên nhớ rằng, đêm ngủ dưới cây, ngày thứ hai lại đi nơi khác không ở lại nơi này, đây là biểu thị cái gì? Biểu thị sự buông xả tất cả. ta ở dưới gốc cây này ngủ qua một đêm, cây này rất to, bóng cây rất tốt ngày mai,ngày mai lại ở tức là tham luyến, ta ngày mai đổi sang nơi khác,không ở lại chỗ này chỉ ở một đêm, đối với hoàn cảnh một chút tham luyến cũng không có đối đãi bình đẳng như nhau,đây mới là đúng. Ma, bây giờ ma rất là nhiều, khắp nơi đều có, cảm nhận được rất là rõ ràng,phải làm sao? kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta, “bất tác Thánh tâm,danh thiện cảnh giới; nhược tác Thánh giải,tức thụ quần tà” tiếp xúc với họ,cũng không nên đắc tội họ họ nói cái gì,nghe rồi bỏ qua, đừng để ở trong tâm mới là đúng, nếu bạn để trong tâm những gì mà họ nói, thì bạn sai,thì bạn là thụ quần tà. “khả kiến hành nhân sảo hữu chấp chước, tiện thất chánh kiến,tức nhập ma đồ, cầu thăng phản giáng,thậm chí đọa nhập nê lê.” những gì mà Phật giáo huấn chúng ta nên ghi nhớ những cái nghe được bên ngoài không thuộc cái Phật dạy đều không nên để trong tâm công phu thật sự đã đạt. lão pháp sư Hải Hiền thị phạm cho chúng thấy, trong tâm chỉ có câu A Di Đà Phật, trừ A Di Đà Phật ra tất cả đều buông xả đều không nên để trong tâm bao gồm cái gì? kinh Vô Lượng Thọ cũng không nên để trong tâm. chúng ta phải học nó,dùng nó làm công cụ, giúp chúng ta nhận thức rõ ràng hơn,minh bạch hơn nhưng không thể để trong tâm, để ở trong tâm là sai, chỉ cho phép một câu A Di Đà Phật để trong tâm lão pháp sư thị phạm cho chúng ta xem làm ra tấm gương đại triệt đại ngộ cho chúng ta xem thời gian hôm nay đã đến rồi chúng ta tạm học đến đây.
(292)

Bài viết cùng chuyên mục: Tịnh Độ Đại Kinh Khoa Chú 2014-lần 4

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


× bốn = 12

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: