MỤC TIÊU VÀ LỢI ÍCH CỦA 3 NỀN GIÁO PHÁP CHÍNH YẾU MÀ ĐỨC PHẬT ĐỂ LẠI CHO NHÂN LOẠI

Giáo pháp của Đức Phật có lợi ích gì cho nhân loại, mà sau 3000 năm nền giáo pháp ấy vẫn tồn tại và phát triển, đặc biệt là gần đây càng ngày càng nhiều nhà khoa học bắt đầu chú ý tới nền giáo pháp này. Nhưng đáng tiếc ngày nay đại đa số mọi người vẫn chưa biết lợi ích thật sự mà những nền giáo pháp này mang lại. Nên hôm nay mình làm video clip hy vọng sẽ giúp mọi người có cái nhìn chính xác hơn về giáo pháp của Đức Phật, nhằm có thể hưởng được những lợi ích bất khả tư nghì mà Đức Thế Tôn đã tìm ra và trao truyền lại cho nhân loại.

Nhưng để gặp được một giáo pháp chính yếu nhất, nền tảng nhất mà Đức Phật để lại cách đây gần 3000 năm không phải là một việc đơn giản, huống chi là để hiểu được nó một cách chính xác.

Nên điều thứ I mà chúng ta cần phải làm là xác định cho được kiến thức nào là nền tảng nhất, chính yếu nhất mà Đức Thế Tôn đã để lại cho nhân loại. Như mọi người đều biết và thường hay nghe nhất là 3 chữ giới, định, tuệ . Tuệ là gì, đó là một sự sáng suốt rõ ràng giúp ta nhìn ra được thật tướng của các pháp. Lợi ích trước tiên mà trí tuệ mang lại cho loài người là điều gì, đó chính là niềm hạnh phúc chân thật. Việc hạnh phúc và việc thấy biết đúng như thật thì có liên quan gì với nhau, điều này khá lạ lẵm đối với nhiều người trong xã hội hiện nay, họ thường cho rằng hạnh phúc là có được điều họ muốn. Nhưng họ ko biết rằng những điều họ muốn có đều là những thứ giả tạm do cái thấy biết sai lầm mà gây ra, sự lầm lẫn đáng tiếc này sẽ kéo theo một niềm hạnh phúc giả tạo và sau đó là hậu quả khổ đau không thể tránh khỏi, như khi chúng ta mua phải đồ giả mà ta không biết thì ban đầu có thể khiến cho ta có một cảm giác hạnh phúc nhất thời nào đó nhưng khi biết rằng nó là đồ giả thì sẽ làm cho ta rất hối tiếc và khó chịu. Như vậy trước mắt ta có thể chấp nhận được rằng trí tuệ là cái thấy biết đúng như thật là một điều kiện tiên quyết để có được hạnh phúc. Và nhìn vào tam vô lậu học Giới Định Tuệ này ta thấy ngây giới là cái nền tảng là cái căn bản nhất.

Nhưng khi nhìn kỹ hơn nữa đặc biệt là đối với Phật Giáo mình mới nhận ra rằng cái mà ngài luôn đặt ra trước tiên đó là sự nhìn thấu, sự hiểu biết một cách rõ ràng mới là cái trước nhất, nên lúc đầu Phật cũng chưa giảng về giới luật mà giảng những giáo pháp nền tảng căn bản trước, giúp mọi người hiểu ra được rồi sau đó mới bắt đầu từ từ chế ra giới luật. Nên trong kinh điển của Phật Giáo Nền Tảng ta hay nghe Phật Nói thế này “đến để thấy, để thực hành rồi hãy tin” “đừng tin ngay lời ta nói, mà hãy suy xét xem điều ta nói có đúng không rồi hãy tin theo”. Và với trí tuệ của Đức Phật ngài không chỉ giảng được những giáo lý căn bản mà còn có thể giảng được những giáo lý thâm áo nhất của vũ trụ là những điều mà với tư duy, hiểu biết của con người thì không thể nào hình dung ra được đây cũng là những điều mà những tôn giáo khác không thể làm được. Mãi đến những năm gần đây nhờ những công trình toán học vĩ đại của các nhà khoa học mô tả lại các quy luật biến hóa trong thế giới lượng tử con người mới thấy rằng với những tư duy,  hiểu biết thông thường của loài người thì không thể nào chấp nhận và hiểu được những chân tướng sự thật đang thực sự diễn ra trong cái thế giới hiện thực này,  nhờ đó mà loài người mới bắt đầu dám tin những giáo pháp thâm áo mà Đức Phật đã nói ra cách đây gần 3000 năm. Như trong điển tích “niêm hoa vi tiếu” Phật có nói “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”, người nào có tu chứng thì chỉ có người đó biết không thể nói cho ai hiểu được. Như vậy những giáo pháp thâm áo này không thể dùng tư duy, ngôn ngữ để hiểu mà phải nhờ đến toán học hiện đại ngày nay mới có thể giúp con người tin tưởng mà thôi. Trong khi đó giáo pháp Nền Tảng lại rất minh bạch, rõ ràng chính nhờ điểm này mà nó đã giúp Đạo Phật tạo ra sự vượt bậc và làm nên một cuộc cách mạng tôn giáo tín ngưỡng thời bấy giờ. Vì vậy mà giáo pháp thâm áo không thể hiểu nỗi của Phật Giáo Phát-Triển phải nhường lại cho giáo pháp Nền Tảng được truyền bá trước để từng bước nâng cao trí tuệ cho nhân loại. Nhưng nếu Phật Giáo Phát-Triển công bố và truyền bá rộng rãi sau khi toán học hiện đại của Phương Tây xuất hiện thì mọi người sẽ nghĩ rằng những giáo pháp này có thể là học hỏi từ khoa học phương tây chắc gì là từ trí tuệ siêu việt của Đức Phật. Vì vậy mà sau này có nhiều vị đại Bồ Tát đã quay lại thế gian ghi chép lại những kiến thức này. Nhưng những kiến thức này không những có nhiều điều trái ngược lại với những hiểu biết thông thường mà Phật đã rao giảng trong những giáo pháp căn bản ở thời kỳ đầu, mà còn ngược lại với tôn chỉ của Phật Giáo Nền Tảng đó là niềm tin phải được xây dựng trên sự hiểu biết rõ ràng. Nếu không phải là người ở bên cạnh Đức Phật nghe chính từ kim khẩu của Đức Phật nói ra thì khó mà có thể khiến họ tin được. Nên khi Phật Giáo Phát Triển truyền tới những nơi nào mà có sự cấm gốc của Phật Giáo Nền Tảng thì rất dễ bị hiểu nhầm là những thứ ngoại đạo trà trộn.

Rất may là hiện nay Phật Giáo Nền Tảng chỉ lan rộng tới một số quốc gia theo phương đông nam như Srilanka, Mianma, Thái Lan…. Nhưng tại sao Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan… những quốc gia còn nặng về tín ngưỡng, tôn thờ các quyền năng của thượng đế, của các đấng thần linh thì không thể phát triển được… còn Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…lại là những nước tiếp nhận được Phật Giáo Phát Triển đó là nhờ Trung Quốc có được 2 tôn giáo bản địa là Đạo Nho, Đạo Lão mà nền tảng của 2 đạo này là dựa vào môn chiêm tinh học và kinh dịch nhờ những giáo lý này mà người Trung Quốc tin rằng có một luật biến hóa chi phối cả trời đất, ẩn tàng, sâu kín, biến hóa khôn lường là nền tảng cho những quyền năng của thượng đế của các đấng thần linh, nhưng kinh dịch và ngành chiêm tinh học chỉ mới là những giáo lý phát hiện ra được hiện tượng đó, còn căn nguyên của nó thì vẫn chưa lý giải được một cách minh bạch rõ ràng, vì thế mà họ cần một Giáo Pháp nào đó cao siêu hơn để có thể lý giải được điều đó và  Phật Giáo Phát Triển đã đáp ứng được điều đó mà trọng tâm của Phật Giáo Phát-Triển là kinh Hoa Nghiêm đã nói rằng “Nhất trần châu biến pháp giới” Sự chấn động của một vi trần, sự ba động này châu biến pháp giới, một ý niệm quý vị khởi lên cái sóng động này liền châu biến pháp giới, trật tự cả pháp giới liền thây đổi, một niệm tốt hay niệm xấu khởi lên thì ngây lập tức cảnh giới bên ngoài liền chuyển biến. Vị trí của các vì tinh tú liền thây đổi, cái tốc độ châu biến này là không có gì sánh bằng và sau đó bạn sẽ nhận lại sự phản hồi ngược lại y chang những gì bạn đã làm, cái năng lực này không phải của một đấng toàn năng nào mà là do nơi Tự Tánh, Bản Thể một thứ không hình không tướng nhưng tất cả đều không ngoài nó mà có, đó là cái mà Đạo Lão gọi là Đạo, tuy Lão Tử chưa biết cách nào để thể nhập được cái Bản Thể, Tự Tánh này nhưng ngài biết rằng nó là có và không ai thoát được ra khỏi nó, nhờ vậy mà Đạo Lão đề ra thuyết vô vi sống hợp theo lẽ trời, thuận theo tự nhiên thì tự nhiên sẽ đáp trả lại y như vậy bạn thuận theo nó thì nó cũng sẽ thuận theo bạn và như vậy thì không cần cố gắng thân cận hay tôn sùng một vị thượng đế nào cả, và Đạo Lão còn thấy được rằng “Ta có tai họa vì ta có thân” nên cảnh giới cao nhất mà Đạo Lão lên được có thể là cõi trời vô sắc giới. Đây là một bước tiến bộ của Đạo Lão hơn những tôn giáo đương thời. Nhưng Phật Giáo Phát-Triển còn vượt xa hơn thế nữa, như kinh Hoa Nghiêm có nói rằng “Hoa Nghiêm Tam Muội lấy nhất chân pháp giới vô tận duyên khởi làm lý thú”. Nhà Phật phân ra làm 2 loại pháp giới: một gọi là pháp giới duyên khởi và một gọi là pháp giới nhất chân, nhất có nghĩa là một, là đồng một thể, không có trong và ngoài, không có phân biệt ta và người, mỗi ý niệm khởi lên đều là từ cái tổng thể mà sanh ra, không phải từ cái ý thức do phân biệt mà sanh khởi ra vì vậy mà không có sai lầm, không có khiếm khuyết không có thây đổi, tất cả đều hòa hợp với nhau làm một không có hai huống chi là ba nên không có yêu hay ghét, không có hai thì làm gì có đối nghịch làm gì có chướng ngại nên ở đây là tự do tự tại. Không có hai thì làm gì có sự tác động qua lại thì làm gì có biến hóa, có sanh diệt nên ở đây mới là cảnh giới chân thật, vĩnh hằng, bất biến. Còn Pháp Giới Duyên Khởi thì sự biến hóa của nó là vô cùng vô tận, sanh diệt không ngừng. Không những vậy mà nó còn phân ra vô lượng vô biên các cấp độ cảnh giới khác nhau. có cảnh giới nặng nề, u ám, có cảnh giới nhẹ nhàng, trong sáng chúng sanh tạo nghiệp nào thì tiếp nhận được cảnh giới tương ứng. Giống như kênh truyền hình vậy mỗi kênh có tần số khác nhau, bắt được đúng tần số nào thì kênh truyền hình đó sẽ hiện ra. Chúng ta hiện đang ở trong không gian ba chiều, người ở trong không gian bốn chiều được xem như thần tiên. Khoa học gia chứng thực chí ít có đến mười một chiều không gian, cách nói này rất thú vị, rất giống trong Phật pháp nói về mười pháp giới. Do đây mà biết, nhà Phật nói mười pháp giới thực tế chính là không gian duy thứ không đồng nhau. Duy thứ càng cao, hoàn cảnh sinh hoạt của cảnh giới đó càng thù thắng, không gian sinh hoạt của họ càng rộng lớn. Đến duy thứ cao nhất, cứu cánh viên mãn thì không gian hoạt động của họ là tận hư không khắp pháp giới, khoa học gia cũng phát hiện ra. một khi còn nằm trong pháp giới duyên khởi dù có nhẹ tới mức nào cũng phải chịu sự biến hóa, vô thường.

Vì vô minh quên mất Tự Tánh nên chúng sanh khởi lên cái thấy và cái bị thấy, rồi thấy có trong có ngoài, có ta và người từ đó mà có nhân và duyên, nhân là cái bên trong duyên là cái bên ngoài tác động vào, một khi có tác động là có nhân duyên hòa hợp mà sinh khởi ra biến hóa từ đó mà sanh khởi ra đủ các loại hiện tượng nên gọi là pháp giới duyên khởi, do có biến hóa nên có phiền não và Phật quy nạp lại thành 3 loại phiền não chính đó là vô minh phiền não, trần sa phiền não và kiến tư phiền não tương ưng với 3 thứ chướng ngại lớn đó là “vọng tưởng, phân biệt, chấp trước” và tương ưng với 3 loại pháp giới chính là “Thật Báo Trang Nghiêm Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ và Phàm Thánh Đồng Cư Độ”. Khi còn chấp cái ngã tướng là còn nằm trong “Phàm Thánh Đồng Cự Độ” được chia ra làm 2 cảnh giới chính là Thánh và Phàm, Thánh thì gồm 3 cảnh giới tương ứng với 3 cõi trời là cõi trời vô sắc giới, sắc giới và dục giới , Cảnh giới phàm cũng phân làm 3 là cõi trần, cõi ngạ quỹ và cõi địa ngục. Cõi trần lại phân ra làm 3 dạng là khoáng vật, thực vật và động vật, khi buông được ngã chấp và tập khí ngã chấp chúng sanh tiến lên cảnh giới Thanh văn và duyên giác, tiếp tục nếu buông được phân biệt, và tập khí của tâm phân biệt chúng sanh sẽ lên tới cảnh giới Bồ Tát và Phật trong mười pháp giới, Và cuối cùng buông được vọng tưởng là phá được một phần vô minh chứng được một phần pháp thân trở về Nhất Chân Pháp Giới tới đây là hoàn toàn viên mãn không còn gì để buông nữa. Xin mời quí vị xem đoạn video clip của những nhà khoa học hiện nay:

Vì sao hình thành 10 pháp giới này, các nhà khoa học tuyệt nhiên không biết; làm thế nào đột phá, họ cũng không biết. Nhưng kinh Phật lại nói rất thấu triệt, mười pháp giới hình thành do vọng tưởng phân biệt chấp trước. Vậy làm thế nào để đột phá? dùng công phu thiền định, đem không gian trùng trùng vô hạn độ này đột phá, sau đó bạn mới thấy được chân tướng của vũ trụ nhân sanh, đó gọi là pháp giới nhất chân, tương ưng với khoa học gia đã phát hiện.

Những người tu bên đạo Lão chưa ra khỏi tam giới là lục đạo luân hồi tuy đã biết cách tu tập thiền định để nâng cao cảnh giới như vậy cũng là đã tiến bộ hơn những tôn giáo tin ngưỡng khác ở chổ là họ đã không cần phải tôn sùng hay thân cận một vị thượng đế nào nhưng so với Đạo Phật vẫn còn là một khoảng cách khá xa. Còn những tôn giáo tín ngưỡng thông thường là họ mới chỉ có biết và tin rằng có những chúng sanh ở cảnh giới cao hơn có quyền năng và trí tuệ hơn loài người, nên họ đã biết nghe theo những lời chỉ dẫn về cách sống của những chúng sanh này điều này cũng coi như là thông minh, tiến bộ hơn người trần mắt thịt chúng ta rồi. Còn có những tôn giáo cho rằng có một đấng sáng tạo đã kiến tạo nên thế giới này, điều này cũng có thể đúng nhưng khi họ cho rằng đấng sáng tạo này là một đấng toàn năng thì chưa hẳn vì nếu toàn năng thì thế giới mà họ kiến tạo ra phải hoàn hảo và viên mãn mới phải chứ, ngoài ra có những tôn giáo còn cho rằng đấng sáng tạo này không những là đấng toàn năng mà còn có quyền năng tối thượng có thể định đoạt số phận của bất kỳ ai mà họ nghĩ là do họ sáng tạo ra thì cái quan niệm này khá là nguy hiểm,  vì chấp vào tà kiến này nên nhiều tôn giáo tín ngưỡng cực đoan đã nhiều lần phá hủy Đạo Phật. Ngày nay ít ai hiểu được Kinh Dịch và ngành Chiêm Tinh Học của Trung Quốc có được một sự tiến bộ như vậy nếu không có nó thì có lẽ Phật Giáo Phát-Triển đã bị những tôn giáo tín ngưỡng cực đoan tàn phá hết, vậy mà có nhiều người còn xem nó như là những thứ bói toán vớ vẫn nên không có nhu cầu muốn tìm hiểu. Ngoài ra, ta còn thấy rằng Luật nhân quả báo ứng mà cơ sở lý giải của nó cũng là xuất phát từ cái luật biến hóa nhiệm màu này. Nhờ tin vào luật nhân quả báo ứng mà con người biết làm lành, lánh ác không dám phạm những điều răn dạy biết gìn giữ giới luật không dám vi phạm. Mà cũng chính vì giới luật nhà Phật đặc biệt là của Phật Giáo Phát-Triển bên Trung Quốc mấy ngàn năm nay đều dựa trên niềm tin vào luật nhân quả báo ứng, nên khi con người không còn có niềm tin tuyệt đối vào luật nhân quả nữa không còn tin vào quyền năng của các đấng thần linh nữa thì giới luật của nhà Phật theo đó cũng khó mà giữ được đó cũng là lý do vì sao thời gian gần đây Phật Giáo Phát Triển tại các nước  như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…bị mất gốc không còn đứng vững được. Trong khi đó những nước như Srilanka, Myanma, Thái Lan, Campuchia … lại ổn định và phát triển, đó là vì giới luật của Phật Giáo tại những nước này lại dựa trên sự thấu rõ những quy luật biến hóa của tâm thức, họ thấy được niềm hạnh phúc, an lạc là do nhân gì mà được thì tự nhiên sẽ tuân thủ giới luật và nhờ vào điều này mà Phật Giáo tại những nước này không bị ảnh hưởng bao nhiêu.

Tuy nhiên, gần đây nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kỷ thuật, nhất là vật lý lượng tử đã chứng minh và làm rõ nhiều điều được trình bày trong những kinh điển của Phật Giáo Phát-Triển,  qúy vị muốn tìm hiểu có thể kiếm cuốn sách “Tân Vật Lý và Vũ Trụ Luận, Phật Giáo và Thế Giới Lượng Tử” của Đức Đạt Lai Lạt Ma và cuốn “Lượng Tử và Hoa Sen” của Ngài Trịnh Xuân Thuận, Điều này đã giúp cho Phật Giáo Phát-Triển lấy lại được niềm tin của quần chúng. Nhưng niềm tin vào những giáo pháp cao siêu này thì vẫn chưa đủ để giúp người ngày nay chuyển hóa được tâm thức của mình. Nên HT Tịnh Không đang kêu gọi thế giới xây dựng lại nền văn hóa truyền thống, nền giáo dục thánh hiền gây dựng lại nếp sống gia giáo của Nho Gia và niềm tin về nhân quả của Đạo Giáo. Nhưng ngày nay khoa học và công nghệ phát triển vượt bậc nền giáo dục của nhiều quốc gia á đông đã thây đổi, đại đa số được tiếp cận nền giáo dục khoa học từ nhỏ nếp tư duy logic, lối sống thực dụng, phóng khoáng và sự mất niềm tin vào những gì thiếu cơ sở khoa học đã ăn sâu vào tâm thức của con người ngày nay. Khoa học tuy đã tiến bộ rất nhiều nhưng vẫn còn nhiều hạn chế vẫn còn nhiều thứ khoa học chưa chứng minh được chẳng hạn như luật nhân quả báo ứng, mặc dù vật lý lượng tử đã giải thích được luật nhân quả báo ứng nhưng chưa đủ cơ sở để chứng minh nên các nhà khoa học chưa dám công bố cho thế giới biết và điều này là điều không may cho đạo Nho và đạo Lão, còn đối với Phật Giáo Nền Tảng thì sao, như ta biết bản chất của khoa học hiện nay là mô tả những nguyên lý hoạt động của vật chất còn Phật Giáo Nền Tảng lại mô tả những quy luật hoạt động của Tâm Thức nhờ cái điểm chung này mà Phật Giáo Nền Tảng đã không bị ảnh hưởng nhiều. Và những nguyên lý, nguyên tắc này đầu óc con người có thể nắm bắt được có thể hiểu được, và giới luật phải được đặt trên cơ sở của sự hiểu biết mới lâu bền mới có thể vượt qua được những thứ đầy cám dỗ của thời đại ngày nay, và khi giữ được giới thì tâm mới được định và khai huệ nhờ đó dần dần sẽ chuyển hóa được những ô nhiễm trong tâm thức của mình, khi tâm thanh tịnh hơn con người mới bắt đầu thực hành buông xã những thứ vi tế hơn đó là  buông bỏ cả tư duy, suy nghĩ mới có thể tiến vào giáo pháp Đại Thừa, đây là lý do vì sao Phật đã nói rằng “Phật tử không học Tiểu thừa trước rồi sau đó học Đại Thừa thì không phải là đệ tử Phật”. Nếu chúng ta học theo kinh điển Đại Thừa thì ta thấy đa số đều khuyên bảo chúng ta nên buông bỏ ý niệm, tư duy, suy nghĩ như bên Tịnh Độ thì bắt chúng ta phải niệm Phật thành khối là không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn thì mới nắm chắc phần vãng sanh, hoặc bên Thiền Tông thì bắt ta tham cứu ngoài đề mục tham cứu đó ra thì không cho khởi lên một ý niệm gì, nghe qua tưởng chừng đơn giản  nhưng khi thực hành mới thấy rằng, ngày nay hầu như không ai có thể làm được vì người ngày nay tu theo Phật Giáo Phát Triển chỉ nghe đến giới này giới nọ nhưng không hiểu được rõ ràng những quy luật hoạt động của tâm thức mà cũng không còn tin tưởng tuyệt đối vào nhân quả vào những vị thần linh sử phạt công minh nên dù có biết rõ về giới luật nhưng vẫn không kiềm được dục vọng trước những thứ đầy cám dỗ như hiện nay và cuối cùng là không thể giữ được giới. Quan sát lịch sử ta thấy có 2 nguyên nhân chính khiến cho Phật Giáo Phát-Triển bị hư hoại,nguyên nhân thứ nhất là những người tin theo những tôn giáo tín ngưỡng cực đoan đã phá hủy Phật Giáo gần hết nhưng nhờ sự xuất hiện của Kinh Dịch, ngành Chiêm Tinh Học mà Phật Giáo Phát-Triển đã được người Trung Hoa tin tưởng rồi tiếp nối và nguyên nhân thứ hai là khi quá tin vào khoa học cổ điển nhiều người không còn tin tưởng vào Kinh Dịch và Chiêm Tinh Học nữa cũng tức là không còn tin vào nhân quả nữa khi đó giới luật của nhà Phật cũng khó mà giữ được làm cho Phật Giáo Phát-Triển Trung Quốc bị mất gốc và dần dần suy sụp, nhưng rất may là ở Việt Nam, Phật Giáo Phát-Triển bắt gặp được cùng lúc Vật lý lượng tử và Phật Giáo Nền Tảng. Nếu Phật Giáo Phát-Triển chỉ gặp được Vật  Lý Lượng Tử thì cũng khó mà đứng vững do thiếu Nền Tảng là giới luật, còn nếu Phật Giáo Phát-Triển chỉ gặp được Phật Giáo Nền Tảng thì càng dễ bị hiểu nhầm là tà ma ngoài đạo trà trộn. Và Việt Nam thật may mắn vì đã hội tụ được cùng một lúc 3 nền văn hóa lớn trên thế giới, một là Phật Giáo Nền Tảng từ Ấn Độ truyền sang, hai là Phật Giáo Phát-Triển từ Trung Quốc truyền xuống và thứ ba là Vật Lý Lượng Tử từ Phương Tây truyền qua. Nếu quý vị muốn tìm hiểu thêm về sự ảnh hưởng này quý vị có thể tham khảo 4 nhân vật khá nổi tiếng hiện nay là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, HT Tịnh Không, ngài Trịnh Xuân Thuận và Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Ngoài ra, Phật Giáo còn một loại giáo pháp nữa đó là mật giáo, mật giáo được xây dựng trên  niềm tin vào quyền năng của chư Phật, Bồ Tát được truyền qua danh hiệu của các ngài hoặc các câu thần chú hay còn gọi là mật chú. Mật có nghĩa là thâm mật là ẩn mật bên trong không thể thấy giống như cái máy ảnh có những mạch điện bên trong chúng ta không thấy được không thể biết được nó hoạt động như thế nào, nhưng chỉ cần bấm một cái là ngay lập tức có được một bức ảnh rất chính xác mà không cần tốn nhiều công sức và thời gian nào cả. Nên đây còn gọi là pháp môn tha lực. Vậy mật giáo khác với những tôn giáo tôn thờ quyền năng của thượng đế, của các đấng thần linh ở điểm nào. Khái niệm Thượng Đế mà các tôn giáo lớn đang tôn thờ có thể xem là một năng lực của Tự Tánh giống như câu nói của Lục Tổ Huệ Năng là “không ngờ Tự Tánh muôn sanh vạn Pháp”, Tự Tánh thì không phải là ai cả chỉ vì chúng sanh mê muội quên mất Tự Tánh nên sanh ra biến hóa vô cùng vô tận. Có thể có những chúng sanh ở những cảnh giới cao hơn, có quyền năng hơn những chúng sanh khác và có thể có năng lực biến hóa phi thường nhưng chưa phải là đấng toàn năng vì nếu đúng họ là đấng toàn năng thì làm sao mà thế giới này lại có quá nhiều chúng sanh đang đâu khổ như vậy thì làm sao nói họ là đấng toàn năng cho được, có thể chỉ là một đấng sáng tạo nào đó chưa được hoàn hảo lắm. Nếu đúng là đấng toàn năng thì thế giới ấy phải tốt đẹp mới phải, giống như Thế Giới Tây Phương Cực Lạc là do Đức Phật A Di Đà kiến tạo ra là nơi hoàn toàn không có khổ đâu mà ngài cũng chẳng xưng mình là đấng toàn năng mà chỉ xưng là bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác là người đã minh tâm kiến tánh, mà ngài cũng không cho mình cái quyền định đoạt số phận của một ai, quý vị muốn vãng sanh sang thế giới của ngài hay không là quyền của quý vị. Vậy tại sao cảnh giới của Ngài lại có thể đạt được sự viên mãn, hoàn hảo, trong khi đó thế giới mà ta đang sống được cho là từ một đấng sáng tạo nào đó tạo ra lại đầy đâu khổ và khiếm khuyết. Đó là vì Phật A Di Đà đã minh tâm kiến tánh, bất kỳ một người nào đã minh tâm kiến tánh thì cảnh giới của các ngài kiến tạo ra đều là từ Tự Tánh biểu hiện và sanh khởi ra nên gọi là Tánh Khởi, vì vậy mà nó đồng tính chất với Tự Tánh là chân thật, vĩnh hằng, bất biến, không sanh không diệt. Còn thế giới chúng ta đang sống cũng có thể là do một đấng sáng tạo nào đó tạo ra, nhưng vì nó có quá nhiều sự đâu khổ và phiền não thì ta biết rằng đấng sáng tạo này tuy có quyền năng sáng tạo nhưng chưa minh tâm kiến tánh nên thế giới của ngài tạo ra vẫn là do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng gọi là duyên khởi, mà duyên khởi là biến hóa, vô thường mà vô thường thì sự đâu khổ là không thể tránh khỏi  dù các ngài có lòng Từ Bi, Bát Ái đối với chúng sanh như thế nào chăng nữa thì cũng là ngoài tầm kiểm soát của các ngài. Điều này giống như một người nào đó thông minh trí tuệ thì tất nhiên sản phẩm của họ làm ra chắc chắn phải hoàn hảo hơn người vụng về, dốt nát chứ. Còn Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử của loài người, ngài  như một vị Thầy đến thế gian này để giáo dục chúng sanh, giúp chúng sanh thấy được chân tướng sự thật, thấu rõ bản chất vô thường của thế giới này, để từ đó mà chúng ta biết cầu sanh sang thế giới Tịnh Độ của Chư Phật. Mà điều kiện tối thiểu thấp nhất chỉ có ở thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, chỉ cần chúng ta biết thâm tín, thiết nguyện là đủ điều kiện để vãng sanh. Nhưng làm sao có thể thiết nguyện nếu chúng ta còn luyến ái ở thế gian này, vì vậy mà Phật Giáo Nền Tảng sẽ vô cùng quan trọng để giúp chúng ta đè phục được ái dục. Nếu niềm tin của ta chưa đủ thì Phật Giáo Phát-Triển sẽ giúp ta thấu rõ bản chất của thế giới này là do nhân duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng gọi là duyên khởi, còn cảnh giới chư Phật là từ tự tánh biến hiện ra nên gọi là Tánh Khởi. Mà duyên khởi là biến hóa là hư ảo là vô thường. Còn tánh khởi là chân thật, là vĩnh hằng, là bất biến. Rất may là Mật Giáo đã được các vị Cao Tăng, Đại Đức sớm đã truyền bá vào Việt Nam làm cơ sở nền tảng cho pháp môn Tịnh Độ được phát triển, đặc biệt là gần đây Đức Gyalwang Drukpa nhiều lần ghé Việt Nam cũng chính là cũng cố thêm niềm tin về pháp môn Tịnh Độ cho người dân Việt. Đây lại là một điều may mắn nữa của người Việt Nam cùng một lúc kế thừa được 3 nền giáo pháp của Đức Phật.  Tại sao giáo pháp của Đức Phật phải chia ra làm 3, trong khi làm 2 là đã thấy đủ chuyện lắm rồi. Phật Pháp là muốn cứu độ cho tất cả chúng sanh chư Phật không muốn bỏ một ai, nếu giáo lý là thường dành cho những bậc tu hành thây mặt Đức Thế Tôn để giáo hóa chúng sanh thì mật giáo là những ứng dụng của chư Phật, Bồ Tát chỉ có các ngài mới đủ khả năng kiến tạo ra được cảnh giới Cực Lạc và những câu mật chú nhằm cho tất cả chúng sanh có thể tận dụng được lợi ích của nó một cách hiệu quả và dễ dàng, cũng giống như khoa học cũng phân làm 3 lĩnh vực một là khoa học cổ điển, hai là khoa học hiện đại và thứ ba là công nghệ kỷ thuật là những ứng dụng của khoa học, giống như máy bay hay tàu vũ trụ là một sản phẩm của công nghệ khoa học hiện đại muốn sử dụng được nó các phi công cũng phải có kiến thức về khoa học phải được đào tạo bài bản từ thấp đến cao và muốn mọi người tin tưởng và chịu sử dụng thì cũng cần phải có các tầng lớp trí thức biết được nguyên tắc hoạt động của nó cũng phải được học từ thấp tới cao mới có thể biết được, khi đó mới khiến cho quần chúng tin tưởng. Một khi đã tin tưởng, và muốn đến một nơi nào đó thì chỉ cần một ít phước báu là được. Cũng giống vậy các phi công được xem là những vị tu bên Mật Tông, và kiến thức khoa học bao giờ cũng phân ra 2 loại như Toán Học Sơ Cấp, Toán Học Cao Cấp cũng giống như Phật Giáo Nền Tảng và Phật Giáo Phát Triển, còn Tầng lớp trí thức được xem là các Thầy tu nắm rõ kinh điển giáo lý nhằm giảng giải cho phật tử nắm được những kiến thức chính yếu để quý vị tin tưởng và biết cách làm thể nào để tích lũy phước báu và gìn giữ được nó.

Để giúp cho mọi người hiểu được và nắm bắt được những kiến thức chính yếu này, nhất là để thích ứng với thời đại khoa học ngày nay mình sẽ dùng khoa học cổ điển để minh họa cho những giáo lý Phật Giáo Nền Tảng giúp mọi người dễ hình dung hơn và dùng khoa học cận đại để mô tả Phật Giáo Phát-Triển cho mọi người có thể tin tưởng được. (6)

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


9 + tám =

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: