Phát Bồ Đề Tâm – Nhất Hướng Chuyên Niệm. (Phần 2)

Hôm qua, chúng ta đã học Phát Tâm Bồ Đề – Nhất Hướng Chuyên Niệm cùng tính chất quan trọng của tâm Bồ Đề, đồng thời chúng ta cũng đã nói đến thế nào là tâm Bồ Đề. Hôm nay chúng ta cũng vẫn tiếp tục bổ sung một chút, nói qua tâm Bồ Đề là gì, sau đó mới giảng qua làm thế nào để phát tâm Bồ Đề. Hôm qua chúng ta đã dùng kinh văn trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, nói đến tâm Bồ Đề bao gồm ba loại tâm.
– Thứ nhất là Chí Thành Tâm.
– Thứ hai là Thâm Tâm.
– Thứ ba là Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm.
Phật nói, có thể đầy đủ ba loại tâm này thì quyết định có thể vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Ba thứ tâm này, nói một cách đơn giản chính là như Ngài Ngẫu Ích Đại Sư trong Di Đà Yếu Giải nói về Tín – Nguyện. Tín – Nguyện là phải có sự chân thành, một trăm phần trăm (100%) tin tưởng và phát nguyện. Bạn có thể tín nguyện một cách chân thành thì tâm chân thành này chính là tâm chí thành. Có thể tin chắc có thế giới Tây Phương Cực Lạc, tin chắc có Phật A Di Đà và cũng tin chính mình vốn dĩ là Phật, hiện tại nếu niệm Phật cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc để thành Phật, đây là việc có thể làm đến được. Tin tưởng 48 đại nguyện của A Di Đà Phật nhất định là chân thật. Hiện tại chúng ta tuy là phàm phu sanh tử tội ác, nghiệp chướng sâu nặng, thế nhưng nhờ sức bổn nguyện của A Di Đà Phật, chắc chắn có thể nương nhờ tiếp dẫn của Phật vãng sanh Tây Phương. Đây chính là thâm tâm, nghĩa là tin sâu.
Chúng ta phát nguyện cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, đến thế giới Cực Lạc để làm gì? Làm Phật đó mà! Làm Phật để rộng độ chúng sanh. Tâm này chính là tâm hồi hướng phát nguyện. Cho nên, tâm Bồ Đề nói một cách đơn giản nhất, dễ hiểu nhất chính là tin sâu, nguyện thiết, cầu sanh Tịnh Độ. Ngài Ngẫu Ích Đại sư nói: “Tin sâu, nguyện thiết chính là Vô Thượng Bồ Đề”, đây là Vô Thượng Bồ Đề Tâm. Tâm này vừa phát ra thì chắc chắn vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Cho nên chúng ta tu hành là phải tu cái tâm này, nếu như chỉ tu trên hành vi có thể rất là khổ cực, nhưng chưa hẳn được thành công. Giống như chúng ta muốn đoạn phiền não, trong Liễu Phàm Tứ Huấn có một ví dụ như trảm độc thọ. Chúng ta đốn một cây có độc, cây này có độc chúng ta phải đốn đi. Nếu như chỉ tu trên hành vi giống như chúng ta tỉa nhánh, tỉa cành vậy, là tu giả, vậy thì tu đến bao giờ mới có thể tiêu trừ được nó? Nếu như chúng ta biết cách tu tâm, nghĩa là trực tiếp từ ngay gốc mà đoạn phiền não. Tâm Bồ Đề vừa phát thì toàn bộ phiền não sẽ không phát khởi, sẽ không có chỗ để khởi phiền não. Cho nên tâm Bồ Đề thật đáng quý, nó là chánh nhân để bạn thành Phật, là chánh nhân để bạn vãng sanh. Do đó chúng ta hãy tư kiểm điểm, phản tỉnh lấy mình rốt cuộc đã phát tâm Bồ Đề chưa? Phát tâm Bồ đề là trạng thái như thế nào? Trước mắt chúng ta có một tấm gương rất sống động, đó là cô giáo Lưu Tố Vân, là người thật sự phát tâm Bồ Đề, chân tín, nguyện thiết cầu sanh Tịnh Độ. Bạn xem, điều gì cô cũng có thể buông xả được. Nếu như không phát tâm Bồ Đề mà muốn buông xả thì thật không dễ. Bạn xem người thế gian, một số người vật ngoài thân không thể buông xả được, tiền tài, tài sản không buông nổi; thân thể không buông xả được; đối với tình chấp của gia đình quyến thuộc không buông xả được. Những thứ không buông xả được quá nhiều, cho nên vĩnh viễn bị cột chặt ở trong sáu cõi luân hồi. Nếu như muốn buông xả từng chút rất là khổ cực. Hiện tại dạy chúng ta bỗng chốc phải buông hết, vậy thì phải hiểu rõ đạo lý, hiểu rõ tường tận thì bạn mới có thể chân thật phát khởi tín nguyện. Cho nên tâm Bồ Đề vừa phát thì giống như mặt trời giữa hư không, màn đêm tự tan mất.
Tôi tự mình nghĩ lại việc học Phật trong 20 năm qua, nghe Tịnh Không ân sư giảng kinh nói pháp 20 năm, tôi rất là may mắn từ đầu đến cuối chỉ theo một vị thầy, không hề nghe qua một vị thầy nào khác. Tuy nhiên cũng rất là hổ thẹn, 20 năm cũng không có học được tốt, mãi cho đến bây giờ, mặc dù so với 20 năm trước đã buông xả không ít, thế nhưng vẫn còn nhiều thứ chưa buông.
Sáng hôm qua, ân sư thế độ cho tôi đến thăm viếng lão pháp sư. Sau khi nói xong lời khai mạc, ra ngoài nghỉ ngơi, lúc đó Tịnh Không ân sư cũng vừa mới đến. Hai người bạn cũ gặp nhau nên rất nhiệt tình trò chuyện với nhau. Hòa Thượng Xướng Hoài nói: “Tôi kính phục nhất là công phu nhìn thấu, buông xả của Ngài Tịnh Không. Nhìn thấu, buông xả không ai có thể sánh bằng Ngài”. Sau đó Ngài lại nói với tôi: “Thầy không thể sánh, con cũng không thể sánh”. Kỳ thật, lão Xướng Công cũng là đang nhắc nhở tôi, khẳng định lão Hòa thượng xem thấy cảnh giới tu hành của tôi vẫn còn kém xa, phải học với Tịnh Không ân sư chúng ta.
Các vị xem, sư phụ trong lúc giảng pháp thường nói, Ngài học Phật 60 năm là học điều gì? Chính là sáu chữ mà ngày đầu tiên học phật, đại sư Chương Gia dạy cho Ngài: “Nhìn được thấu, buông được xuống”. Học hết 60 năm, chỉ tu sáu chữ này. Do đó, những người học Phật chúng ta phải từ trên phương diện này mà nỗ lực làm. Tự bản thân tôi cũng muốn chia sẻ một chút về việc tôi làm cách nào để học tập nhìn thấu, buông xả, làm thế nào để kiểm điểm tâm Bồ Đề. Phải từ việc nhìn thấu, buông xả mà kiểm điểm. Các vị xem, sư phụ thượng nhân viết ra câu đối: “Chân Thành, Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Chánh Giác, Từ Bi”, đây là tâm Bồ Đề, chính là tâm Phật. Bạn thật sự có tâm này chưa thì phải từ ngay hành vi của các bạn mà xem. Phía bên đây là hành: “Nhìn Thấu, Buông Xả, Tự Tại, Tùy Duyên, Niệm Phật”. Trước tiên chúng ta nói hai chữ đầu tiên, đây là hai chữ then chốt, quý vị nhìn thấu, buông xả thì sẽ được tự tại. Được tự tại thì thân tâm thư thái, giống như Tịnh Không ân sư chúng ta, 86 tuổi mà thân thể vẫn khỏe mạnh, Xướng Công rất là bội phục, nói: “Tôi không bằng Ngài” (Xướng Công còn nhỏ hơn sư phụ hai tuổi). Xướng Công nói: “Công phu nhìn thấu buông xả của Ngài rất cao”. Đó là hai vị trưởng giả thị hiện cho chúng ta xem.
Được “tự tại” là do nhìn thấu buông xả mà có. Làm thế nào để có thể buông xả? Cần phải nhìn thấu. Làm sao nhìn thấu? Phải hiểu lý, hiểu rõ chân tướng sự thật của vũ trụ nhân sanh. Vậy chân tướng là gì? Trên kinh Kim Cang nói với chúng ta “Phàm sở hữu tướng đều là hư vọng”, và kinh Vô Lượng Thọ cũng nói “Quán Pháp như hóa”. Tất cả pháp là huyễn hóa, không có chân thật, bạn mới buông xả được. Tam Muội thường tịch tức là đạt tự tại trong việc buông xả. Tự tại thì bạn được tùy duyên, không tự tại bạn không thể tùy duyên. Tùy duyên để làm gì? Để niệm A Di Đà Phật, như cô giáo Lưu Tố Vân nói: “Sống một ngày thì niệm A Di Đà Phật một ngày”. Phàm là người chân thật buông xả thì họ chỉ làm một việc, đó là niệm Phật.
Tôi tự nhìn lại việc tu học trong 20 năm qua, 10 năm đầu cơ bản là nghe pháp, nghe kinh, có thể nói là nghe như không nghe, vì nghe nhưng không hiểu. Vì sao nói nghe không hiểu? Vì chưa buông xả. Lúc bấy giờ mới lên đại học không bao lâu, năm 1991 tôi lên đại học, 1992 thì Tịnh Không ân sư đến chùa Quan Hiếu ở Quảng Châu giảng kinh A Di Đà, báo cáo nghiên tập do lão Hòa thượng Bổn Hoán thỉnh mời. Mẹ tôi dẫn tôi đến gặp Tịnh Không ân sư, từ đó bắt đầu tiếp nhận kinh giáo của Ngài giảng dạy. Lúc bấy giờ tôi thỉnh một bộ băng ghi âm (cassette), khi đó chưa có băng ghi hình, là do công ty Nhất Tâm Viên – Đài Bắc, Đài Loan sản xuất băng cassette. Ngài Bổn Hoán đưa cho mẹ tôi một quyển Đại Thừa Vô Lượng Thọ kinh do Ngài Hạ Liên Cư hội tập, để chúng tôi về nhà xem. Lúc đó Hòa Thượng Bổn Hoán khuyên tôi xuất gia. Đó là chuyện của 20 năm về trước. Khi đó dù Ngài đã khuyên tôi hai lần, các đồng tu bên cạnh nghe được, ngay cả vị thị giả của Ngài cũng cảm thấy lạ, nói: “Bổn lão bình thường không bao giờ nói chuyện với ai, vừa gặp anh thì nói rất nhiều, còn khuyên anh xuất gia”. Ngài khuyên tôi sau khi xuất gia phải làm đại pháp sư. Ngài nói: “Con xem, những người tại gia bận điều gì, người xuất gia bận điều gì? Những người xuất gia chúng tôi bận việc hoằng pháp lợi sanh”. Mặc dù Ngài khuyên, nhưng lúc đó tôi đang bận việc xuất ngoại, không nghĩ đến việc xuất gia.
Sau khi đến Mỹ du học thì tôi đã bắt đầu nghe ân sư Tịnh Không giảng dạy kinh giáo. Thế là tôi đến Phật đường ở Dallas để thân cận với sư phụ thượng nhân, và cùng ngồi đối diện với Ngài là vào tháng 5 năm 1997. Câu đầu tiên là Ngài khuyên tôi phải cố gắng học và đọc kinh Vô Lượng Thọ. Đó là chuyện của 15 năm về trước. Lúc đó, tôi nghe sư phụ thượng nhân giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng lần thứ hai, tổng cộng có 107 băng ghi âm. Lúc bấy giờ gặp sư phụ thượng nhân cho các pháp sư mang dòng chữ Ngộ thế phát lần cuối, tôi có dự lễ thế phát. Hôm đó có vài đồng tu thế phát mà chỉ mới ghi danh có một ngày trước đó, bao gồm những vị pháp sư mà chúng tôi quen như pháp sư Ngộ Thắng, pháp sư Ngộ Lâm – người Mỹ, v.v…. Sau đó có rất nhiều người cũng khuyến khích tôi: “Anh muốn xuất gia không? Đây là lần cuối cùng sư phụ làm lễ thế phát. Từ lúc Hàn Quán Trưởng ra đi vào năm 1997, sau khi bà Hàn Quán trưởng ra đi, sư phụ sẽ không cạo đầu cho ai nữa. Xưa kia đều do Hàn Quán Trưởng yêu cầu nên Ngài phải làm. Bây giờ Hàn Quán trưởng đi rồi, Ngài sẽ không cạo nữa. Đây là chuyến xe cuối cùng, anh phải mau tranh thủ”.Lúc bấy giờ tôi không dám, tôi nói: “Tôi không dám, tôi sợ đọa địa ngục”. Bởi vì nghe nói trước cửa địa ngục Tăng đạo nhiều, tu không tốt phải đọa địa ngục và lúc đó tôi cũng đang muốn lấy bằng tiến sĩ. Sau khi lấy xong bằng tiến sĩ thì làm giáo sư Đại học, vẫn còn đi trên con đường truy cầu danh lợi của thế gian, chưa có một chút nào nhìn thấu để buông xả, tuy nhiên nghe pháp thì chưa bao giờ gián đoạn và rất là thích nghe. Khi tôi du học ở bên Mỹ, căn bản là mỗi ngày mang theo một cái máy cassette nhỏ, mỗi ngày mở cassette ra nghe. Giống như cảnh sát Huỳnh Bá Lâm nói, bây giờ sướng quá, nghe đại kinh giải có MP3, lúc đó chúng tôi phải nghe máy cassette. Tôi nghe rất nhiều và dần dần cũng hiểu rõ đạo lý, sự giác ngộ cũng bắt đầu. Tuy nhiên lúc bấy giờ cũng chưa buông xả được thế pháp, nhưng vẫn mơ hồ cảm thấy phải hướng về phương hướng buông xả mà nỗ lực, phải cầu sanh Tây Phương, một đời này không thể để luống qua.
Năm 1999, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thì tôi bắt đầu đi làm, dạy học ở trường đại học Mỹ. Trong khoảng thời gian đó tôi thường cùng với mẹ đến thân cận với sư phụ. Sư phụ cũng có lần khuyên tôi phải rời Mỹ, vì tương lai Mỹ sẽ có tai nạn, phải mau rời Mỹ để sang Úc Châu, Tịnh Tông Học Viện cũng vừa thành lập vào đầu năn 2001, con qua đó chúng ta cùng nhau cộng tu, vả lại trường đại học Queensland mời thầy đảm nhiệm chức giáo sư vinh dự và đại diện cho trường đi dự Hội Nghị Hòa Bình của Liên Hiệp Quốc, đẩy mạnh việc đoàn kết tôn giáo hòa bình thế giới, con đi theo thầy để làm phiên dịch tiếng anh cho thầy. Tôi nghe xong trong lòng cảm thấy hồi hộp, bối rối, tuy nhiên lại cảm thấy mình vô cùng vinh hạnh, nên quyết định rời nước Mỹ. Tuy nhiên nguyên nhân chính yếu để tôi rời khỏi Mỹ là do một sự kiện vào ngày 11 tháng 9. Sư phụ vừa mới nói Mỹ sẽ có tai nạn, không ngờ sau đó lập tức xảy ra. Tôi nghĩ tai nạn chắc là đến rồi, nên tôi lập tức rời Mỹ để sang Úc. Việc qua Úc chỉ là một việc buông xả nho nhỏ mà thôi, bởi vì tiền lương ở Mỹ cao gấp đôi lần tiền lương ở Úc.
Khi sang Úc, tôi cũng chưa thật sự buông xả những pháp của thế gian. Tôi nghĩ, trước tiên nên tìm một trường đại học, xin một phần giáo chức để giải quyết sự sống, sau đó dùng thời gian dư ra để yểm trợ sư phụ hoằng pháp. Thật may mắn, trường đại học Queensland đang cần một vị giảng sư cao cấp về tài chánh. Tôi liền gởi lý lịch đi, họ xem lý lịch của tôi cũng khá tốt nên lập tức nhận ngay, và chỉ trong một tháng đã giúp tôi và mẹ tôi làm xong thủ tục di dân. Thế là chúng tôi đến Úc Châu, bỏ đi thẻ xanh của nước Mỹ.
Sau khi sang Úc, tôi vừa làm việc vừa đi theo sư phụ thượng nhân đến các nơi trên thế giới để đẩy mạnh hài hòa các tôn giáo và hoằng pháp. Trải qua những lời dạy cũng như bằng thân giáo của Ngài, dần dần tôi được tăng trưởng tâm Bồ Đề của mình. Sư phụ nhắc nhở tôi: “Người trẻ tuổi phải có sứ mạng”. Lúc đó tôi nghĩ, rốt cuộc sứ mạng của tôi là gì? Đời này tôi đến đây để làm gì? Nghĩ đi, nghĩ lại chỉ có một đáp án, đó chính là phải hoằng pháp lợi sanh. Sư phụ Ngài cũng rất là thiện xảo, Ngài nói: “Bây giờ con có thể hoằng pháp bán thời gian”. Bởi vì lúc bấy giờ tôi vẫn còn làm việc, Ngài biết tôi không chịu buông xả công việc của mình, nên Ngài muốn tôi hoằng pháp bán thời thôi. Cho nên sau khi làm việc xong, tôi mới làm việc hoằng pháp. Làm dần dần, dần dần, đại khái nhờ tu phước báo, phước đến thì tâm sáng. Ở trường đại học Queensland, tôi đã dạy hết ba năm. Bấy giờ trường đại học mời tôi làm phó giáo thọ và hướng dẫn sinh viên tiến sĩ, đồng thời trường đại học Hạ Môn ở Trung Quốc cũng gởi giấy mời tôi làm chủ tịch giáo sư. Lúc bấy giờ sư phụ cũng vô cùng thiện xảo và khuyên tôi, con có thể đến trung tâm giáo dục tôn giáo ở Lô Giang, nơi đó đang xây dựng, con có thể sang đó để giúp đỡ. Tôi nói: “Dạ được”. Lúc đó mẹ tôi hỏi sư phụ: “Thưa Ngài, Ngài xem Mao Sâm (đó là thế danh của tôi) nên ở lại nước Úc làm việc tốt hay là trở về Trung Quốc, chỗ nào tốt hơn?”. Sư phụ thượng nhân nói một câu: “Phải làm Thánh hiền!”. Mẹ tôi nghe xong không hiểu gì. Sau khi về nhà, hai mẹ con cùng nhau tham cứu câu nói này, vì câu trả lời của sư phụ hình như không nhằm vào câu hỏi. Chúng tôi hỏi ở Trung Quốc tốt hay ở Úc Châu tốt, Ngài nói phải làm Thánh hiền là ý nghĩa gì? Sau đó chúng tôi hiểu rồi, tham cứu ra rồi, nếu làm Thánh hiến đến đâu cũng tốt, không làm Thánh hiền đến đâu cũng không tốt.
Muốn làm Thánh hiền trước tiên bạn phải buông xả danh văn lợi dưỡng, buông xả sự hưởng thụ của năm dục sáu trần, buông xả tự tư tự lợi, bạn không thể chỉ biết nghĩ cho mình. Câu hỏi ở Úc Châu tốt hay ở Trung Quốc tốt đều là nghĩ cho mình. Hiện tại không thể vì mình mà nghĩ, vậy thì phải làm sao? Thì đừng nghĩ nữa, nghe lời sư phụ thôi. Chúng tôi mới đến thỉnh giáo với sư phụ: “Chúng con nên làm như thế nào?”. Sư phụ chỉ dẫn tôi: “Bây giờ con có thể hoằng pháp toàn thời gian”. Thế là tôi hạ quyết tâm từ chức việc dạy học ở trường đại học Queensland, đồng thời từ chối thư mời làm chủ tịch giáo thọ của trường đại học Hạ Môn.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2006, mẹ tôi dẫn tôi đến HongKong bái sư. Lúc đó sư phụ rất là hoan hỷ, Ngài đặc biệt thay quần áo mới, phục trang của Hàn Quốc, sau đó ra tiếp tôi với mẹ tôi. Mẹ tôi bước lên chỉnh lý lại mình, sau đó mời Ngài ngồi lên ghế. Tôi và mẹ hướng về Phật Bồ Tát lạy ba lạy, sau đó hướng về sư phụ lạy ba lạy. Sư phụ thương nhân không có nói là không lạy. Bình thường Ngài thường nói không lạy, không lạy, nhưng lần này Ngài để chúng tôi lạy đủ ba lạy, không nói lời nào. Kế đó mẹ tôi hướng về sư phụ đọc bài “Tiễn con bái sư”. Có lẽ nhiều người đã xem qua “Mẫu Từ Tử Hiếu”, văn chương trong quyển sách đó hoàn toàn đều là sao chép lại. Sư phụ thượng nhân rất là hoan hỷ, đại khái Ngài xem thấy cậu bé này rốt cuộc đã chịu buông xả một chút rồi. Đây chỉ là sự buông xả vật ngoài thân, buông xả bước đầu.
Trước tiên bạn đối với tài sản, với danh vị, đối với lợi dưỡng, đối với tiền tài bạn phải nhìn được thấu, buông được xuống. Bạn xem, thật là không dễ, từ mười chín, hai mươi tuổi thì bắt đầu nghe pháp, đến năm 2006 là ba mươi hai tuổi, mười bảy, mười tám năm, hơn mười năm rồi mới có thể buông xả được một chút. Tôi cũng thuộc loại độn căn, kém xa so với cô giáo Lưu, trong mười năm cô đã hoàn toàn buông xả, còn tôi mới buông xả bước thứ nhất. Tuy nhiên có được bước thứ nhất thì sẽ có bước thứ hai. Khi chúng ta buông xả được một chút thì có thể nhìn thấu thêm một chút. Nhìn thấu thêm một chút bạn lại có thể buông xả thêm một chút. Cho nên sau khi buông xả, vào tháng giêng năm 2007, tôi đến HongKong. Lúc bấy giờ tôi đã đem tất cả tài sản, cũng không nhiều, một chút thôi, như nhà cửa, xe hơi đều bố thí, sắp xếp đâu vào đó. Tiền trong nhà băng, phần nào nên biếu cha mẹ thì biếu cha mẹ, nên bố thí thì bố thí, cũng giải quyết xong hết, đến HongKong theo sư phụ học giảng kinh. Mẹ tôi thì trở về Trung Quốc đại lục sống cuộc sống thoái hưu của mẹ, nhưng mẹ rất là giúp đỡ tôi.
Trong bài tiễn con bái sư đặc biệt nói: “Mao Sâm tương lai hoàn toàn giao cho Ngài điều giáo. Tương lai hoặc giả hiện tướng tại gia như Ngài Lý Bĩnh Nam, hoặc giả giống như Ngài hiện tướng xuất gia, hoàn toàn do Ngài quyết định”. Sư phụ đối với bài văn “Tiễn con bái sư” có thể Ngài thích nhất là câu nói này. Cho nên vào năm 2007, có lần trong lúc giải đáp Phật học, Ngài đặc biệt nói: “Mẹ của Chung Mao Sâm hiện giờ giao con cho tôi điều giáo, sau này xuất gia hay tại gia do tôi quyết định. Thật đáng quý!”. Ngài nói tiếp: “Tôi hy vọng thế nào? Tôi hy vọng Mao Sâm sau này xuất gia làm pháp sư tốt, kế thừa huệ mạng của Phật”.
Bạn xem, năm 2007 sư phụ đã nói câu nói này rồi, bảo tôi xuất gia, kết quả, chờ mãi cũng không có xuất gia, vì sao vậy? Vì vật ngoài thân buông xả được, tình chấp vẫn chưa buông nổi, đích thật sư phụ trong lúc giảng pháp thường nói, tình chấp là khó buông nhất. Thật tế là không dễ buông bỏ, bởi vì khi tôi trưởng thành, thời gian theo mẹ là nhiều nhất. Hai mẹ con nương tựa với nhau để sống. Bao nhiêu năm qua rồi, hiện giờ nói xuất gia, xa lìa mẹ thật là khó! Cho nên trải qua năm năm suy nghĩ và chuẩn bị sau cùng mới hạ quyết tâm. Vào năm ngoái, khoảng tháng ba, tháng tư, tôi viết một lá thư cho sư phụ nói: “Hiện tại đệ tử hạ quyết tâm buông xả trần duyên, xuất gia; mong muốn tương lai tu hành, hoằng pháp lợi sanh”. Sư phụ nhận được thư của tôi, lúc đó sư phụ đang ở Úc châu, tôi ở HongKong giảng kinh. Tôi nhờ cô Ngô Phạm chuyển tin fax này cho sư phụ. Kết quả, khi tôi gởi tin nhắn cho Ngài, hình như ngay tối hôm đó tôi liền nhận được tin trả lời qua cô Ngô Phạm là sư phụ đã ra chỉ thị rồi, Ngài sẽ sắp xếp cho tôi. Tôi cảm giác hình như sư phụ chờ lá thư này đã lâu lắm rồi. Kết quả, không bao lâu sư phụ liền từ Úc châu trở về HongKong, dẫn tôi đi chùa Viên Minh thăm viếng Xướng Công. Đây là một người bạn cũ hơn ba mươi năm quen biết, đã nhiều năm chưa gặp mặt, cũng chưa từng ngồi ăn cơm chung. Hôm đó bỗng dưng dẫn tôi đi đến đó để ăn cơm, tôi cảm thấy rất kỳ lạ, tại sao phải đến chùa Viên Minh? Lúc đó chùa Viên Minh cũng chưa xây xong, rất nhiều công trình đang còn dỡ dang. Sư phụ dẫn tôi đến đó dùng cơm, lúc đó Ngài Xướng Công cũng rất hoan hỷ, ra nghênh đón sư phụ thượng nhân chúng ta. Khi mọi người cùng nhau bước vào thang máy, cửa thang máy vừa đóng, sư phụ liền nói: “Tương lai cho Chung Mao Sâm làm đệ tử của thầy, theo thầy thế phát xuất gia có được không?”. Xướng Công nghe xong cũng ngạc nhiên, vì chưa hề có sự chuẩn bị tư tưởng. Ngài quay qua nhìn tôi, Ngài nói: “Được!”. Ngài cũng không biết tôi là ai. Thế là nhận lời rồi! Nói chung đối với Xướng Công, ai muốn xuất gia Ngài đều vui vẻ cho họ thế phát, dù Ngài không biết người đó là ai. Xem như đã nhận lời xong. Tôi cảm giác hình như hai người đang nói đùa với nhau, trong thang máy đã nói xong mọi việc.
Qua vài tháng sau, không nghe nói năng gì nữa, tôi nghĩ có phải sư phụ đã quên mất rồi không? Tôi lại đi hỏi sư phụ, sư phụ nói: “Được! Vậy thì mau mau tìm ngày tháng thôi”. Sau cùng chọn xong ngày và cũng liên lạc xong với Xướng Công. Ngày 15 tháng 7 năm ngoái, ở chùa Viên Minh làm lễ thế phát. Xướng Công nói: “Lúc đó tôi nghĩ Ngài Tịnh Không nói đùa, không ngờ là thật”. Sau đó Ngài nói tôi gởi sơ yếu lý lịch, mới biết là khi tôi còn tại gia có những học vị, công việc, lương bổng; sau khi từ chức làm việc tại trường học, đi hoằng dương văn hóa truyền thống, hoằng dương Phật pháp năm năm. Ngài rất tán thán, Ngài nói: “Tịnh lão có thể đem người đệ tử như vầy giao cho mình xuất gia, có phải là đùa hay không?”. Lúc đó Ngài cũng không dám tin, nhưng quả thật đó là sự thật. Chúng tôi thật tình đến, Ngài cũng thật tình tiếp đãi. Cho nên, vào ngày 15 tháng bảy đã tổ chức nghi thức thế phát vô cùng long trọng. Lúc đó có khoảng gần một ngàn người đến dự, sư phụ thượng nhân cũng tham dự buổi quán lễ đó, và mẹ tôi cũng có tham gia. Trong lúc tôi xuất gia, quý vị có thể đã xem DVD đó, lúc đó tôi khóc thật là khó coi. Tôi khóc, mẹ tôi cũng khóc. Đặc biệt trong nghi thức có một đoạn nghi thức phải bái biệt cha mẹ của mình. Xướng Công để mẹ tôi ngồi bên phải của chánh điện, mời sư phụ thượng thân ngồi bên trái, trước là bái tạ cha mẹ, sau đó bái tạ sư phụ. Xướng Công rất có trí tuệ, bởi vì hiếu thân tôn sư là đại căn đại bản của người học Phật. Khi tôi bái biệt mẹ tôi, mẹ tôi mới đề ra ba điều kiện khi xuất gia phải làm cho tốt:
– Điều thứ nhất: Con nhất định phải thật sự nỗ lực tu hành, có thể chứng ngộ tâm tánh.
– Điều thứ hai: Con nhất định phải hoằng pháp lợi sanh.
– Điều thứ ba: Con nhất định phải vãng sanh Tinh Độ.
Mẹ tôi tiễn con xuất gia đề ra ba yêu cầu. Lúc đó tôi vừa khóc, vừa nghe lời dặn dò của mẹ. Sau khi tôi lạy mẹ xong thì đến lạy lão sư. Ngài Tịnh Không ân sư là lão sư truyền pháp của tôi, truyền thụ đại pháp cho tôi, nên phải bái tạ lão sư. Không có thầy, không có cha mẹ không có thể nào có nhân duyên thù thắng xuất gia của ngày nay. Cho nên, khi bái tạ sư phụ, sư phụ cũng dặn dò tôi vài lời: “Đã chọn con đường xuất gia thì phải có sứ mạng, phải đem Phật Giáo trở lại giáo dục của Phật Đà”. Do đó sư phụ thượng nhân khuyến khích tôi phải hoằng pháp lợi sanh. Xướng Công theo đó đặt cho tôi pháp hiệu là Định Hoằng. Hoằng là hoằng pháp, hoằng pháp lợi sanh, ngay đời này nhất định phải hoằng pháp lợi sanh. Pháp hiệu này cũng là một sự thúc đẩy sách tấn đối với tôi. Nếu như tôi không thể hoằng pháp, không thể kế thừa huệ mạng của Phật, không thể chấn hưng giáo dục Phật Đà, không thể làm những việc cống hiến này thì tôi có lỗi với danh hiệu này, càng có lỗi với cha mẹ và sự đào tạo bồi dưỡng của sư phụ thượng nhân. Cho nên xuất gia là một bước thứ hai buông xả. Như tôi vừa mới nói, từ Mỹ sang Úc là buông xả nhỏ, chưa hoàn toàn buông xả. Sau khi chân thật đem công việc từ bỏ là buông xả vật ngoại thân, đây là bước thứ nhất.
Bước thứ hai buông xả tình chấp đi xuất gia. Đương nhiên mọi người không nên hiểu lầm, “buông xả tình chấp” không phải nói là không có tình cảm, không nhận sáu thân nữa, không phải ý nghĩa như vậy, nếu như vậy thì không bằng cả súc sanh, vì súc sanh còn có tình cảm. Buông xả tình chấp không phải là buông xả tình cảm. Tình cảm có thể có, đó là chuyện bình thường và có thể hằng thuận chúng sanh. Tuy nhiên có tình cảm nhưng không nên chấp trước, đây gọi là buông bỏ tình chấp. Phật năm xưa cũng có tình cảm, khi phụ vương bệnh nặng thì Phật Thích Ca Mâu Ni mau mau trở về ở bên cạnh cha mình, an ủi cha trong lúc lâm chung và khuyên cha cầu sanh thế giới Cực Lạc, đây là tình cảm. Sau khi phụ vương qua đời đích thân Ngài khiêng quan tài cho cha. Phật cũng là có tình, có nghĩa. Chỉ cần bạn không chấp trước là được, như cô giáo Lưu, cô là người có tình cảm rất dồi dào. Tôi nhớ vào ngày 25 tháng 12 năm 2009, trong lúc giảng kinh sư phụ thượng nhân nói: “Tôi muốn ra đi”. Lúc bấy giờ cô giáo Lưu, tôi và vài vị đồng tu ngồi trong phòng thu âm nghe giảng pháp, cô giáo Lưu liền khóc, khóc rất là đau lòng. Sư phụ giảng pháp xong, chúng tôi lập tức quỳ xuống thỉnh mời sư phụ cửu trụ thế gian. Cô giáo Lưu lúc đó đã khóc rất nhiều, đó là tình cảm. Tình cảm cũng là Bồ Tát thị hiện, chỉ cần bạn không nên chấp trước thì sẽ không bị chướng ngại.
Trở lại bước thứ hai của tôi là buông bỏ tình chấp, còn phải tiếp tục buông nữa. Nhân duyên buông bỏ thứ nhất là do sư phụ thượng nhân, như vừa rồi tôi mới nói, vào cuối năm 2009, ngày 25 tháng 12, Ngài nói Ngài sẽ ra đi, Ngài không muốn ở thế gian nữa, lúc đó Ngài đang giảng kinh Hoa Nghiêm. Khi đó chúng tôi cùng nghĩ làm cách nào khiến sư phụ cửu trụ thế gian. Tôi nghĩ, nhân duyên sư phụ thượng nhân trụ thế là giảng kinh thuyết pháp và đào tạo nhân tài. Nếu như có duyên này thì sư phụ sẽ không ra đi. Nếu như không có duyên này, đương nhiên sư phụ Ngài sẽ cảm thấy không cần thiết ở thế gian nữa. Cho nên chúng tôi nghĩ dùng phương pháp gì để giữ sư phụ lại. Trước đó, vào năm 1997, sư phụ vẫn luôn khuyến khích tôi học kinh Hoa Nghiêm. Đó là chuyện của 15 năm về trước, khi đó tôi vẫn còn học ở Mỹ. Tôi đã gặp sư phụ và nói với Ngài: “Sư phụ! Đệ tử rất muốn học kinh Hoa Nghiêm với Ngài”. Vì lúc đó đã sang năm thứ hai Ngài giảng kinh Hoa Nghiêm, đó là ngày 8 tháng 5 năm 1998, khai giảng tại Singapore. Một năm trước sư phụ chuẩn bị mở một lớp Hoa Nghiêm nhận năm học trò, lúc bấy giờ tôi rất muốn ghi danh, tuy nhiên chỉ là nghĩ mà thôi, không buông xả được, vì chưa học xong tiến sĩ. Cho nên tuy là nghĩ và cũng tỏ vẻ muốn học Hoa Nghiêm với sư phụ, nhưng Ngài nói với tôi: “Thế xuất thế gian pháp đều phải xem duyên phần”. Tôi nghe xong trong lòng cảm thấy rất là hổ thẹn, chắc chắn là hiện giờ duyên của mình chưa đến, thật sự là vậy. Vì sao vậy? Vì chưa buông bỏ được. Cho nên có đồng tu nói: “Tôi rất muốn theo sư phụ học”. Theo sư phụ thì dễ thôi, chỉ cần bạn buông xả là được ngay. Lúc bấy giờ vì tôi vẫn chưa buông xả.
Năm ngoái sau khi xuất gia, tôi hỏi sư phụ một câu: “Thưa sư phụ! Ngài còn nhớ vào 15 năm về trước, ở Dallas có một thanh niên 24 tuổi tham gia buổi lễ thế phát xuất gia sau cùng của Ngài cho các đồng tu, người đó chính là con, Ngài nhớ không? Lúc đó con muốn xuất gia mà không buông xả được, Ngài còn nhớ không?” Sư phụ nói: “Nhớ!”. Tôi lại hỏi sư phụ: “Nếu như lúc đó con xuất gia theo thầy có phải tốt hơn bây giờ không?” Sư phụ nói: “Đương nhiên rồi!”. Sau đó sư phụ nói tiếp: “Rất tiếc lúc bấy giờ con chưa tin”. Tôi cảm thấy thật sự hổ thẹn, không có tin Phật! Cho nên duyên phần thực tế quan trọng nhất vẫn là nương vào tín nguyện của chính mình. Bất luận làm việc gì phải nhờ có tín nguyện. Vãng sanh Tây Phương đương nhiên cũng nhờ tín nguyện. Cho nên vãng sanh được hay không là xem quý vị có chân tín, nguyện thiết không. Không phải A Di Đà Phật không muốn đón bạn đi, là do bạn có muốn đi hay không. Nếu bạn muốn thì chắc chắn sẽ đi được. Nếu không muốn đi thì A Di Đà Phật cũng không thể kéo bạn đi. Cũng giống như quá trình tôi theo sư phụ học Phật pháp, sư phụ rất là có lòng nhẫn nại, chờ đợi tôi giác ngộ. Qua 15 năm mới từ từ giác ngộ, sau cùng mới quyết tâm xuất gia.
Xuất gia, tôi cảm thấy nhân duyên này vẫn còn một điều phải buông bỏ, không chỉ là thế pháp phải buông bỏ, mà đối với văn hóa truyền thống và Phật pháp cũng phải buông bỏ. Bởi vì sau khi tôi từ chức dạy học trong vòng 5 năm nay, đích thực cũng đang nỗ lực học tập truyền thống văn hóa của Nho-Thích-Đạo, tự học và tự giảng. Tôi đã giảng không ít những kinh điển, có lẽ những đồng tu cũng biết, kinh điển của Nho-Thích-Đạo thật sự giảng rất nhiều, có 20 đến 30 bộ như là Hiếu Kinh, Đệ Tử Quy, Cách Ngôn Trị Gia của Châu Tử, Luận Ngữ Đại Học, v.v… Đạo giáo thì giảng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, Du Ý Công Gặp Táo Thần ký, Văn Xương Đế Quân Âm Trắc Văn, Văn Xương Đế Quân Tiên Hiếu Văn, v.v… Nhà Phật thì giảng nhiều hơn, như kinh Đại Tạng, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, kinh Di Đà, kinh Vu Lan Bồn, v.v…, giảng gần 3.000 giờ. Càng giảng càng thích thú. Một khi đã thích rồi thì không muốn ngừng nghỉ nữa, như vậy cũng là sự chấp trước đối với kinh điển và truyền thống văn hóa. Lúc đó tôi có một vọng tưởng, vọng tưởng này cũng khá lớn, nghĩa là tôi sẽ đem những kinh điển chính yếu của Nho-Thích-Đạo đều giảng qua một lần, hy vọng để lại một khóa trình cho mọi người tham khảo. Cho nên tự tôi kê ra một danh sách rất dài, cần phải giảng những kinh gì, kinh gì. Sư phụ cũng biết tôi chấp trước, Ngài cũng hằng thuận chúng sanh. Mỗi khi giảng xong một bộ là đi báo cáo với sư phụ, rằng con đã giảng xong rồi, kế tiếp sẽ giảng những thứ gì. Sư phụ lại chỉ thêm lần sau giảng Hiếu kinh. Lần sau giảng xong rồi thì giảng tiếp kinh gì? Tứ Thư. Thật là càng giảng càng lớn!
Như vừa rồi tôi mới nói, năm 1997 tôi rất muốn theo sư phụ học Hoa Nghiêm, nên cuối năm 2006, sau khi tôi từ chức dạy học, có một hôm sư phụ chủ động nói với tôi: “Về sau con có thể giảng lại kinh Hoa Nghiêm”. Tôi nghe rồi cảm thấy vô cùng hoan hỷ, vì đây là tâm nguyện từ mười năm nay. Trong những buổi giảng trước đây tôi cũng từng nói qua với các vị, kinh Hoa Nghiêm mãi là ước mơ, cuối cùng lại được học. Tuy nhiên hiện tại vẫn còn phải lo cắm gốc, do đó phải học kinh điển của Nho-Thích-Đạo trước, nên tôi lập ra một danh sách, sau khi giảng xong Tứ Thư của nhà Nho sẽ chuẩn bị giảng Chu Di. Tôi sẽ dùng Chu Di Thiền Giải của Ngài Ngẫu Ích Đại Sư. Sau đó tôi sẽ giảng qua một lần Đạo Đức kinh của Đạo gia, và sẽ dùng chú giải của Ngài Hám Sơn Đại Sư. Tôi dự định đem ba nhà Nho – Thích – Đạo dung hợp quán thông với nhau để giảng. Kế đó vẫn còn nghĩ sẽ đem kinh Thánh chọn ra vài đoạn để giảng. Xong, kinh Cô Ran tôi cũng lựa vài đọan để giảng, và cũng đem hai loại này dung hợp quán thông vào nhau để giảng, khiến cho mọi người biết rằng tất cả mọi tôn giáo kỳ thật là cùng cội, cùng nguồn. Sau đó sư phụ lại điểm cho tôi thêm một tựa đề, đó là Chư Kinh Phật Thuyết Địa Ngục Thập Yếu. Quyển sách đó rất dày, bảo tôi giảng qua một lần từ đầu đến cuối. Sau cùng, đương nhiên kinh Hoa Nghiêm là sự lựa chọn sau cùng. Tôi nghĩ, giảng kinh Hoa Nghiêm đến già, khi đó tôi có thể giảng kinh Vô Lượng Thọ rồi.
Giấc mơ đẹp này cứ như thế kéo dài đến ngày 25 thánh 12 năm 2009, bỗng nhiên nghe sư phụ nói chuẩn bị ra đi, trong lòng tôi bàng hoàng. Tôi vẫn chưa bắt đầu học Hoa Nghiêm mà sư phụ nói Ngài sẽ ra đi, phải làm sao đây? Đó là một cú sốc rất lớn đối với tôi. Vào ngày 1 tháng 1 năm 2010, lúc đó cô giáo Lưu và thầy Hồ Tiểu Lâm, ba huynh đệ chúng tôi cùng với sư phụ thượng nhân đi Singapore hoằng pháp. Lúc bấy giờ, chúng tôi có hát bài “Ân Sư” để thỉnh cầu sư phụ trụ thế. Tuy nhiên hát vẫn là hát, bạn phải dùng hành động thực tế để thỉnh sư phụ thượng nhân trụ thế. Trong lòng tôi nghĩ, những kinh điển của Nho – Thích – Đạo không thể giảng nữa, nếu không sẽ không có thời gian để học với sư phụ thượng nhân. Hiện giờ chỉ có thể lựa chọn một bộ, một môn thâm nhập. Tôi tự nghĩ, những gì mình đã học, bộ nào thâm nhập nhiều nhất? Xin thưa thật với các vị, kinh điển Nho – Thích – Đạo tôi đã giảng rất nhiều, thế nhưng thuộc lòng chỉ có một bộ kinh, đó chính là kinh Vô Lượng Thọ, ngay cả kinh A Di Đà tôi cũng không thuộc, chỉ có thể thuộc lòng kinh Vô Lượng Thọ mà thôi. Tôi nghĩ, kinh Vô Lượng Thọ tôi cũng đã nghe qua rất nhiều lần, ít nhất là năm – sáu lần, từ đầu đến cuối rất thuần thục, lại rất ưa thích, còn kinh Hoa Nghiêm, tuy mơ ước nhưng bộ kinh này quá lớn, từ đầu đến cuối đọc qua một lần cũng không dễ, nói chi đọc tụng và thuộc lòng là rất khó, huống hồ căn cơ của người thời đại nay, có mấy người có thể tiếp nhận được kinh Hoa Nghiêm? Bộ kinh Hoa Nghiêm lớn như vậy, hơn nữa nói ra đều là cảnh giới của Pháp Thân Đại Sĩ, không dễ gì thọ trì.
Nghĩ lại, cả đời sư phụ thượng nhân, cống hiến vĩ đại nhất của Ngài chính là hoằng dương kinh Vô Lượng Thọ, vậy thì chúng ta phải truyền thừa kinh Vô Lượng Thọ của Ngài mới đúng. Kinh Vô Lương Thọ là rất khế hợp với căn cơ chúng sanh thời kỳ Mạt Pháp, đương nhiên cũng khế hợp với căn tánh của tôi. Đọc kinh Hoa Nghiêm đôi lúc còn buồn ngủ, không khế hợp với căn cơ của mình, vậy thì làm sao? Phải nên học kinh Vô Lượng Thọ. Sau đó tôi lại nghĩ, sư phụ thượng nhân đã bảo tôi giảng kinh Hoa Nghiêm rồi, nếu tôi không nghe lời sư phụ làm sao được? Lúc đó tư tưởng tôi đang có sự đấu tranh, có nên nghe lời sư phụ không? Tôi nghĩ, thế nào gọi là thật sự nghe lời sư phụ? Vì sao Ngài bảo tôi giảng kinh Hoa Nghiêm? Có thể Ngài nhìn thấy tôi còn mê, rất ưa thích những đại kinh, đại luận, đó là tập khí của những phần tử trí thức, nên Ngài tùy thuận tôi mà nói.
Kinh Vô Lượng Thọ là Như Lai chánh thuyết Đệ Nhất Kinh, mười phương chư Phật đồng tán thán, thiên kinh vạn luận cùng nương về, tất cả chư Phật đều tuyên nói, hơn nữa, sau khi pháp diệt tận, bộ kinh này lưu lại thế gian 100 năm để độ vô lượng chúng sanh. Pháp môn này là pháp môn thù thắng nhất, viên mãn nhất, cứu cánh nhất, phương tiện nhất, dễ dàng nhất, thẳng tắt nhất, thù thắng như vậy tại vì sao chúng ta lại không giảng kinh Vô Lượng Thọ? Thông qua sự suy nghĩ của lý tánh, cuối cùng tôi quyết định buông bỏ kinh Hoa Nghiêm. Đương nhiên kinh điển của thế gian, kinh điển Nho-T (237)

Bài viết cùng chuyên mục: Các Bài Pháp Khác Của HT Tịnh Không

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


bảy + = 12

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: