Không làm giặc, không nói xấu lãnh đạo Tổ quốc, không trốn thuế, không vi phạm pháp luật(Phần 4)

KHÔNG LÀM GIẶC, KHÔNG NÓI XẤU LÃNH ĐẠO TỔ QUỐC,

KHÔNG TRỐN THUẾ, KHÔNG VI PHẠM PHÁP LUẬT

(Báo cáo Thiện Tài Đồng Tử tham học)

Người giảng:              Lão Hòa thượng Tịnh Không

Địa điểm:                   Hội phúc lợi Phật Đà HongKong

Thời gian:                  Tháng 08 năm 2000

Phần 4

Xin mời mở giảng nghĩa, tờ thứ ba, bắt đầu xem từ đoạn thứ nhất: “Thiện nam tử, ngã duy đắc thử, ức niệm nhất thiết chư Phật, bình đẳng cảnh giới, vô ngại trí tuệ, phổ kiến pháp môn”. Đoạn này hôm qua đã từng báo cáo qua với các vị. Tiếp theo xem chú giải của đại sư Thanh Lương: “Tiên khiêm kỷ tri nhất, chư Phật bình đẳng cảnh giới, tức thị sở quán, nghĩa quán thập phương tam thế, thập thân viên dung, giai thị sở niệm”. Bên trong đây đã nói, chúng ta nhất định phải rõ ràng, phải tường tận là các ngài Pháp thân Bồ Tát niệm Phật bằng cách nào? Các Ngài ngay trong mỗi niệm đều viên dung mười phương ba đời tất cả chư Phật.

Mười loại thân của Phật, trên kinh Hoa Nghiêm nói với chúng ta, thân thứ nhất là thân Bồ Đề. Thí dụ như Thế Tôn đã vì chúng ta thị hiện dưới cội Bồ Đề thành Đẳng Chánh Giác. Vì sao Ngài thành Đẳng Chánh Giác? Chính là trải qua tám tướng thành đạo. Phía trước chúng ta đem nó tỉnh lược, sau khi hàng ma mới có thể thành đạo. Dụng ý này thì rất sâu. Ngày nay chúng ta đều là bị ngoại ma trói buộc, không được giải thoát, những gì là ma chứ? Trong Bát Đại Nhân Giác Kinh giảng được rất đơn giản, rất thiết yếu.

Thứ nhất là ngũ ấm ma. Chúng ta mỗi người đều có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây là ngũ ấm. Ngũ ấm ma là chỉ sắc thân của chúng ta, thân của chúng ta chính là ma, có mấy người giác ngộ điều này? Thiếu một bữa cơm không ăn thì liền đói, đó không phải là ma sao? Cái thân này có sanh-lão-bệnh-tử đang dày dò chúng ta, đây là vật chất. Ngoài vật chất ra vẫn còn có tinh thần. Trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì bốn loại phía trước là vật chất, loại sau cùng là tinh thần. Nhục thân của vật chất này của chúng ta cùng với tinh thần ngày ngày đang dày dò chính mình, chỉ cần bạn được cái thân này, thì bạn không cách gì giải thoát. Đây là loại thứ nhất.

Loại thứ hai là phiền não ma. Kỳ thật phiền não ma chính là cái thức phía sau trong ngũ ấm, đó là phiền não, Phật nói được đơn giản thiết yếu, gọi là Kiến tư phiền não. Kiến là kiến giải, đối với tất cả mọi người mọi việc, mọi vật đều nhận thấy sai lầm, nghĩ sai, tư tưởng kiến giải của bạn sai lầm, không phù hợp với chân tướng sự thật, sanh ra dày dò, đây gọi là phiền não ma. Có người nào không có phiền não, người người có phiền não, người trời cũng có phiền não. Nếu như không có phiền não thì họ siêu việt sáu cõi, chỉ cần ở trong sáu cõi thì phiền não chưa đoạn. Đoạn được phiền não rồi liền siêu việt sáu cõi luân hồi. Loại ma thứ hai chúng ta phải giác ngộ.

Loại ma thứ ba gọi là Thiên ma. Cái gì gọi là thiên ma? Chúng ta phải biết, thiên ma không phải yêu ma quỷ quái trên trời, không phải vậy. Hai loại phía trước là tự thân của chúng ta, ngũ ấm và phiền não. Thiên ma là nói ngoài thân chúng ta, thứ ngoài thân thuộc về thiên ma. Ngoài thân là gì vậy? Mê hoặc của tài, sắc, danh, thực, thùy, đó là ma. Phật nói với chúng ta, tài, sắc, danh, thực thùy gọi là năm điều gốc của địa ngục, chỉ cần bạn có một điều, thì bạn không cách gì lời khỏi địa ngục. Năm điều đều có, vậy còn cần nói nữa sao? Hiện tại tuy là không ở địa ngục, nhưng rất nhanh phải đến địa ngục để trả báo. Chỉ cần bạn có năm điều này, trong địa ngục đã có ghi danh rồi, đã lên danh sách rồi, thì bạn làm sao mà không đi được? Đó gọi là thiên ma, chính là vật ở ngoài thân, nó sẽ mê hoặc bạn.

Loại thứ tư là tử ma. Tử ma là gì vậy? Tuổi thọ quá ngắn. Chúng ta muốn tu hành, muốn siêu việt sáu cõi luân hồi, thì thời gian tu hành phải tương đối dài. Nếu vẫn chưa tu thành mà tuổi thọ đến rồi thì uổng phí công phu. Đến đời nào mới có được thân người lại nữa, lại gặp Phật pháp, lại làm lại từ đầu?

Đó là bốn loại ma lớn. Thích Ca Mâu Ni Phật hàng ma gì? Chính là hàng bốn loại ma này, bốn loại đại ma này. Nếu bạn thảy đều rời khỏi hết thì bạn thành Phật rồi. Thành Phật không khó, vấn đề là bạn có năng lực khắc phục bốn loại ma này hay không. Nếu khắc phục ngũ ấm ma rồi, thì hiệu qủa chính là khoẻ mạnh sống lâu, ngay đời này bạn sẽ không bị bệnh. Phiền não ma khắc phục rồi, không chỉ chính mình được thanh lương tự tại, mà còn được trí tuệ tràn đầy. Phiền não nhẹ, trí tuệ thêm lớn, bạn không bị mê hoặc bởi cảnh giới bên ngoài, tất cả người sự vật, do đó bạn liền thành công. Chỉ cần hàng phục ba loại trước rồi, tử ma phía sau tự nhiên sẽ không có. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện cho chúng ta, chúng ta phải giác ngộ.

Như vậy thì theo đây có thể biết cái gốc của ma là gì? Chúng ta phải tìm cho ra cái gốc. Đại đức xưa dạy người, tu hành phải từ căn bản mà tu, nhất định phải biết căn bản. Căn bản của ma chính là ngã chấp, đây là quan niệm rất là sai lầm. Từ ngã chấp liền sanh tự tư tự lợi, ý niệm tự tư tự lợi liền sanh khởi, đương nhiên liền tổn hại người khác, làm những việc tổn người lợi mình, vậy thì bạn liền tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, đó là đọa địa ngục. Sự việc này là thật, quyết định không phải là giả. Sáu cõi luân hồi, không phải Phật Bồ Tát nói ra để hù doạ con người, khuyên bạn làm việc tốt không nên làm việc xấu, không dùng cái thủ đoạn này để hại người. Sáu cõi luân hồi không phải là Phật nói, Bà La Môn giáo cổ xưa đã nói ra rồi. Lịch sử của Bà La Môn giáo lâu đời hơn rất nhiều so với Phật giáo. Hiện tại trên thế giới đều công nhận, Bà La Môn giáo có lịch sử 8500 năm, việc này trên thế giới mọi người đều công nhận. Phật giáo chúng ta mới có 2500 năm, người ta có đến 8500 năm rồi. Thế nhưng khi chúng ta tiếp xúc với giáo sĩ truyền giáo của Bà La Môn, họ nói với chúng ta, họ có lịch sử hơn 10.000 năm, điều này cũng có thể tin tưởng. Người Ấn Độ xưa không xem trọng lịch sử, tôn giáo này rất lâu xa, hiện tại họ không gọi là Bà La Môn giáo mà gọi là Ấn Độ giáo, Trung Quốc chúng ta gọi là Ấn Độ giáo, Nam Dương gọi là Hưng Đô giáo. Tín đồ của họ vẫn rất nhiều. Họ tu định, công phu của thiền định đột phá không gian duy thứ, chính mắt xem thấy sáu cõi luân hồi. Dễ dàng đột phá nhất là cõi ngạ quỷ. Có một số đồng tu thường hay ngồi tĩnh tọa, khi ngồi tĩnh tọa có được chút sức định, không cần định lực rất sâu, sức định rất nhỏ liền có thể thấy được cõi ngạ quỷ. Người trong cõi quỷ, tướng người thấp hơn so với chúng ta, đại khái khoảng 2-3 thước (thước của Trung Quốc), giống như trẻ em vậy. Có không ít người thấy rồi đến nói với tôi. Ngày trước tôi ở Đài Loan, cư sĩ Giản Phong Văn, trước khi chưa gặp tôi, ông ấy tu thiền, ông thường hay ngồi thiền thấy được Thập Điện Diêm Vương. Ông nói dáng của Thập Điện Diêm Vương cũng cao khoảng 3 thước, chúng ta xem thấy như một người lùn, bầu trời trong cõi quỷ cũng giống như trời tối vậy, không nhìn thấy mặt trời, không nhìn thấy mặt trăng, cũng không nhìn thấy các vì sao, vĩnh viễn là trời tối. Ông thấy như vậy, có không ít người xem thấy đến nói với tôi cũng là như vậy, việc này chúng ta có thể tin tưởng. Sức định càng sâu, tầng thứ đột phá càng rộng. Tầng thứ đột phá lớn thì họ có thể thấy được trời cõi dục, thấy được trời sắc giới. Công phu được sâu hơn thì có thể thấy được trời Vô Sắc giới, cho nên tình hình trong sáu cõi là có, không phải không có.

Bà La Môn giáo xưa phát hiện, con người ở trong sáu cõi luân hồi. Họ biết được những tình hình sáu cõi này, nhưng sáu cõi do đâu mà có thì họ không biết. Sở dĩ nhiên của sáu cõi họ không biết, họ biết được lẽ đương nhiên của nó nhưng không biết được sở dĩ nhiên của nó. Phật xuất hiện ở thế gian, đem cái sở dĩ nhiên của sáu cõi nói ra, sáu cõi từ do đâu mà có? Chỗ này Phật giải thích rõ ràng. Thế nên đây là tôn giáo cao cấp của thế gian, ngoài sáu cõi ra, còn có thế giới. Việc này thì không người biết được. Phật xuất hiện thế gian nói với mọi người, bên ngoài sáu cõi còn có pháp giới Thanh văn, pháp giới Duyên Giác, pháp giới Bồ Tát, pháp giới Phật, mười pháp giới Y Chánh Trang Nghiêm. Phật xuất thế mới đem việc này nói tường tận, nói được rất rõ ràng. Vì sao Phật có trí tuệ lớn đến như vậy, có năng lực lớn đến như vậy chứ? Phật đã đoạn được trong sạch bốn loại ma. Bốn loại ma này chính là bốn loại chướng ngại, loại ma này chính là ý nghĩa của sự dày vò. Kinh điển vào thời xưa, cái chữ ma này, bên dưới còn có bộ thạch, chữ ma của chiết ma, chữ ma ngày nay chúng ta viết là chữ ma của ma quỷ, vào thời xưa không có cái chữ này. Cái chữ này là do Lương Võ Đế tạo, Lương Võ Đế nói dày vò này thì quá đáng sợ, còn đáng sợ hơn quỷ, cho nên đem bộ thạch đổi thành bộ quỷ. Cho nên chúng ta đọc bổn kinh cổ xưa, thấy vẫn chưa dùng cái chữ này, vẫn dùng cái chữ ma của chiết ma. Cho nên nếu chúng ta không hàng phục ma chướng thì chúng ta làm sao có thể thành tựu? Niệm Phật, ở ngay trong pháp môn này, phải có phần nắm chắc, rất dễ dàng thành tựu, thế nhưng vẫn phải tiêu trừ ma chướng. Nếu ma chướng hiện tiền, niệm Phật cũng không thể vãng sanh, điều này chúng ta cần phải cảnh giác.

Người nào nắm chắc phần vãng sanh? Người buông bỏ tự tư tự lợi, buông bỏ danh vọng lợi dưỡng, buông bỏ năm dục sáu trần, buông bỏ tham-sân-si-mạn, con người này niệm Phật khẳng định vãng sanh. Phàm hễ người niệm Phật không thể vãng sanh, chính là những thứ này hại chết đi chính mình. Chúng ta thử nghĩ lại xem, chúng ta có bằng lòng ở ngay trong một đời này đến thế giới Tây Phương Cực Lạc để làm Phật không? Thật bằng lòng thì phải thật buông bỏ, cái duyên ở thế gian không nên nếm, quyết định không phải là việc tốt. Ham thích một ít thọ dụng trước mắt, cái thọ dụng đó quá ngắn, quá ít, nhưng bạn phải bỏ ra một cái giá quá đắt, thật không đáng. Từ trên sự tướng mà nói, tài, sắc, danh, lợi nhất định phải viễn ly, nếu như không thể viễn ly, bạn muốn thành tựu ở trên đạo nghiệp thì quá khó. Nếu như đối với năm dục sáu trần còn có tham luyến, thì không có hy vọng thành tựu đạo nghiệp, cho dù bạn học một tông phái nào, cho dù bạn học một pháp môn, chỉ cần vừa nếm phải thì xong rồi. Bạn xem, Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện hình dáng cho chúng ta xem, Thế Tôn buông bỏ hết sạch, trải qua đời sống rất đơn giản. Đời sống rất đơn giản chính là đời sống tràn đầy trí tuệ, họ không có phiền não, không có do dự, không có vướng bận, thân tâm vô ngại, đây mới gọi là đại tự tại, đây gọi là thân Bồ Đề. Chúng ta có thân Bồ Đề thì quyết định vãng sanh làm Phật! Đây là việc chúng ta phải nên học. Các vị học Phật không thể học thành kẻ khờ. Cho nên Phật pháp phải giảng, người xưa nói rất hay: “Phật pháp không người nói, tuy có trí không thể hiểu”. Bạn xem thấy Phật ngồi dưới cội Bồ Đề hàng ma thành đạo, vậy bạn cũng chạy đi tìm gốc Bồ Đề ngồi thiền bên dưới, bạn ngồi 100 năm bạn cũng không thể thành đạo. Cây Bồ Đề là biểu pháp, Bồ Đề chính là giác ngộ, giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm, đây chính là Bồ Đề. Tâm của bạn an trụ ngay Giác-Chánh-Tịnh, lìa xa mê tà nhiễm thì chính là ngồi thiền dưới cội Bồ Đề, không phải bảo bạn thật đi đến đó ngồi. Tọa là ý của sự bất động, tâm bất động, không phải thân bất động, tâm an trụ ngay Giác-Chánh-Tịnh, vĩnh viễn bất động, vĩnh viễn bất ly, chính là bạn đang đoan tọa dưới cội Bồ Đề. Cho nên cổ đức thường nói: “theo văn giải nghĩa, ba đời chư Phật hàm oan”. Ba đời chư Phật đều bị oan uổng vì bạn đã hiểu sai đi ý của Phật.

Hiện tại có rất nhiều người ngồi thiền, cho rằng ngồi thiền là ngồi đối diện với vách đá. Không phải là như vậy. Các vị đọc Lục Tổ Đàn Kinh, xem cách giảng của Đại sư Huệ Năng đối với hai chữ Tọa Thiền này, cách nói của Ngài là Ngài chân thật lý giải. Cái gì gọi là thiền định? Ngoài không dính tướng gọi là thiền, trong không động tâm gọi là định, tuyệt nhiên không phải nói một ngày từ sớm đến tối ngồi quay mặt vào vách ở nơi đó tọa. Bạn suốt ngày đi dạo phố, đi dạo siêu thị, đều là đang tọa thiền, bạn xem thấy tràn đầy những thứ lấp lánh lóa cả mắt mà không động tâm, đó chính là thiền. Không chấp tướng là thiền, không động tâm là định. Chúng ta xem thấy trưởng giả Dục Hương trong kinh Hoa Nghiêm, đây là vị đại thiện tri thức tu thiền định, Thiện Tài Đồng tử thăm viếng ông, ông đang ở đâu vậy? Ông đang ở chợ náo nhiệt nhất, đang đi dạo phố, đi dạo siêu thị, ông đang ở đó tu thiền định. Ông xem thấy được rõ ràng tường tận, thấu suốt làu làu, đó là trí tuệ. Không bị cảnh giới bên ngoài đó dao động là thiền, trong lòng như như bất động là định, thiền định trí tuệ đồng thời thành tựu, không phải ngồi quay mặt vào vách.

Mỗi ngày các vị ở trong nhà, ngày ngày xem ti vi, xem ti vi cũng là thiền định. Nếu như tiết mục biểu diễn trong ti vi, họ cười bạn cũng cười theo, họ khóc bạn cũng khóc, thiền định của bạn xong rồi. Cho nên tôi đã từng khuyên bảo đồng tu, đệ tử Phật chúng ta, trên ti vi tốt nhất dán thêm vài chữ, trên kinh Kim Cang nói: “phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” để nhắc nhở bạn. Cái màn hình này là “phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, bạn có thể xem, nhưng không nên bị nó dao động. Bạn xem truyền hình là tu thiền định, việc diễn ra trong truyền hình rất rõ ràng tường tận, đó là trí tuệ. Mỗi ngày xem truyền hình, định huệ đều học, đang dụng công, không phải xem truyền hình mà sanh phiền não. Khi biết nhiều việc thì phiền não nhiều, quen biết nhiều người thị phi nhiều, khi không biết thì làm những việc phiền não, những việc thị phi, người biết thì định huệ đều học. Hai người cùng nhau xem truyền hình, một người biết, một người không biết, người biết thì thành Phật rồi, người không biết thì sẽ đọa lạc, việc này không hiểu thì làm sao mà được? Người biết thì hàng ma, người không biết thì bị ma hàng phục. Cho nên chúng ta xem thấy thân Bồ Đề, phải hiểu được hàm nghĩa ở trong đó, phải hiểu được ngay trong cuộc sống thường ngày của chúng ta làm thế nào để tu luyện. Tu là tu chánh, luyện là luyện tập, đây là một loại trong mười loại thân.

Loại Thứ hai là Nguyện Thân. Nói đến nguyện, mỗi một đồng tu đều sẽ nghĩ đến Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Điều thứ nhất của Tứ Hoằng Thệ Nguyện là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Chúng sanh chân thật là vô biên, không phân cõi nước, không phân biệt chủng tộc, không phân biệt tôn giáo tín ngưỡng, thảy đều phải đi độ. Tâm lượng của bạn phải rộng, phải có thể bao dung. Trong đại kinh thường nói: “tâm bao thái hư, lượng khắp pháp giới”, chúng ta có được cái tâm lượng lớn như vậy hay không? Không có thì phải nên học, phải mở rộng tâm lượng, bao dung vũ trụ thì chúng ta mới có thể thành tựu. Cái gì gọi là độ? Chữ độ nếu dùng lời hiện đại mà nói, chính là hiệp trợ, giúp đỡ. Phật dạy Bồ Tát, tu hành có sáu cương lĩnh gọi là Lục Độ. Lục độ này nếu dùng lời ngày nay mà nói, chính là sáu phương pháp giúp đỡ tất cả chúng sanh. Sáu phương pháp này đều gọi là độ. Chúng ta nói được càng rõ ràng, càng tường tận hơn, chữ độ này chính là phục vụ, vì tất cả chúng sanh phục vụ. Chính mình cũng là chúng sanh.

Bổn ý của chúng sanh là chúng duyên hòa hợp mà sanh khởi ra hiện tượng, thì gọi là chúng sanh. Cái thân thể này của chúng ta sanh khởi ra là bốn đại, năm uẩn hợp lại mà thành, mà sanh khởi, đó là một chúng sanh. Chúng duyên hòa hợp mà sanh khởi hiện tượng, cho nên bổn ý của chúng sanh không phải là rất nhiều người, không phải vậy, không phải là cái ý này. Chúng duyên hòa hợp mà sanh khởi hiện tượng là bao gồm tất cả động vật, thực vật, khoáng vật, thậm chí đến hiện tượng tự nhiên đều là do chúng duyên hòa hợp mà sanh ra hiện tượng. Như vậy bạn mới biết được hai chữ chúng sanh này, phạm vi này rộng đến bao lớn! Những chúng sanh này đều phải giúp đỡ họ. Giúp đỡ họ cái gì vậy? Giúp họ phá mê khai ngộ, đây là trung tâm, then chốt nhất. Chúng ta giúp họ phá mê khai ngộ, nhưng họ không khai ngộ được, nghiệp chướng của họ quá nặng, vậy thì chúng ta bất đắc dĩ phải cầu đến thứ khác. Phật Bồ Tát giúp đỡ họ đoạn ác tu thiện, họ có thể đoạn tất cả ác, họ không đọa ba đường ác, họ có thể tu thiện, họ có thể được phước báo trời người, nhưng không ra khỏi được luân hồi. Đây là đối với người nghiệp chướng sâu nặng, thì Phật dùng phương pháp này để giúp họ, vì họ phục vụ. Đối với người căn tánh lanh lợi, người thông minh, người phiền não nhẹ, Phật nhất định giúp đỡ họ phá mê khai ngộ, thoát khỏi sáu cõi luân hồi, đem họ nâng lên pháp giới Thanh văn, pháp giới Bồ Tát, chuyển phàm thành thánh, đó là bổn nguyện của chư Phật Bồ Tát. Chúng ta phải học tập, chúng ta phải phát ra cái nguyện này, không nên mỗi niệm vì chính mình, nhất định phải có một tâm nguyện mỗi niệm vì chúng sanh, mỗi niệm thành tựu người khác. Thành tựu người khác chính là thành tựu chính mình.

Hôm này tôi mới nghe nói, Hiệp Hội Thanh Niên Phật giáo nơi đây có hội viên hơn sáu ngàn người, đều là người thanh niên. Hơn sáu ngàn người này nếu cố gắng chân thật dụng công, đích thực là có thể cải thiện phong khí xã hội của Hong Kong. Giảng kinh nói pháp nếu họ đều đến nghe, thì cái giảng đường này dung nạp không hết. Nếu họ quả thật học Phật, thật làm, có thời gian liền đến nghe kinh, liền đến niệm Phật, thì nhất định được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần bảo hộ. Chúng ta dùng phương pháp gì qua lại với Bồ Tát, chúng ta qua lại với quỷ thần? Dùng tâm chân thành cầu cảm ứng, cảm ứng tương thông. Nhất định phải hiểu được cái đạo lý này. Cho nên nhất định phải phát nguyện giúp đỡ tất cả chúng sanh, phải có thể xả mình vì người, phải thực tiễn. Nguyện muốn thực tiễn thì cần phải thực tiễn ngày chính mình, không phải cầu người khác. Cái nguyện này, nếu nguyện người khác phải thế nào thì đó là trống không, phải nguyện chính mình làm được.

Thực tiễn cái thứ nhất là đoạn phiền não, thứ hai là học pháp môn. Chúng ta niệm Phật là vì cái gì vậy? Niệm Phật là để đoạn phiền não. Dùng phương pháp này, đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta đánh bạt hết, chuyên chú một câu Phật hiệu. Ta niệm một giờ đồng hồ, ta ở trong một giờ đồng hồ này không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, buông bỏ hết. Niệm hai giờ đồng hồ, thì ta làm công phu hai giờ. Một mặt niệm Phật, một mặt khởi vọng tưởng, vậy thì không thể thành công, sẽ phá hết đi công phu của bạn rồi. Cho nên phải nên biết niệm Phật là đoạn phiền não, nghe kinh là học pháp môn, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, chính là làm hai sự việc này.

“Đạo tràng”, đạo là gì vậy? Đạo không ngoài đoạn phiền não, học pháp môn. Hai việc này không một ngày nào rời xa, chỉ cần chăm chỉ làm hai việc này, cái đạo tràng này nhất định hưng vượng. Vì sao được hưng vượng vậy? Chư Phật hộ niệm, thiên long thiện thần xem thấy hoan hỉ. Không những là thiện thần xem thấy hoan hỉ, ác thần xem thấy cũng hoan hỉ, họ cũng bội phục, cũng tán thán là các người rất cừ khôi. Vậy thì do đây có thể biết, then chốt vẫn là ở ngay chính mình có chịu làm thật hay không?

Nguyện sau cùng là mục tiêu “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, đây là mục tiêu của chúng ta. Chúng ta đoạn phiền não, học pháp môn là vì cái gì? Chính vì để thành Phật. Thành Phật để làm cái gì? Sau khi thành Phật rộng độ chúng sanh, thì cái nguyện này mới có thể làm được viên mãn, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ làm được viên mãn. Không thành Phật không làm được viên mãn. Tứ hoằng thệ nguyện trước sau có quan hệ nhân quả. Bạn chân thật phát ra cái nguyện này, thì bạn là nguyện thân. Vậy thì các vị thử nghĩ xem, thân bồ đề thì không thể bị bệnh, nguyện thân cũng sẽ không bị bệnh. Thân hiện tại của chúng ta tại vì sao hay bị bệnh vậy? Thân nghiệp báo nên bị bệnh. Bạn chân thật hướng đến bồ đề, chân thật phát tứ hoằng thệ nguyện, thì bạn là thừa nguyện tái sanh, bạn đem thân nghiệp báo của bạn chuyển biến thành nguyện thân, chuyển biến thành thân bồ đề, cùng đồng một thân với Phật Bồ Tát. Chúng ta học Phật không gì khác hơn, học Phật chính là phải biết thay đổi, học rồi mà không biết thay đổi, chẳng phải đã học uổng công rồi hay sao?

Loại thứ ba gọi là Hoá Thân. Đây là “phổ ứng quần cơ, tùy loại hiện hoá”. Chư Phật Như Lai có thể làm, Pháp Thân Đại Sĩ có thể làm, chúng ta có thể làm hay không? Chúng ta cũng có thể. Chúng ta không có đại năng như Phật Bồ Tát, nhưng chúng ta cũng học một chút tiểu năng, hiểu được thông quyền đạt biến, thì bạn liền có thể ứng phó được vô số chúng sanh khác nhau. Thí dụ như chúng ta hiện tại tiếp xúc rất nhiều tôn giáo khác nhau, chúng ta tiếp xúc với họ có phải là nói Phật pháp hay không? Không phải vậy. Tôi tiếp xúc Ki Tô giáo thì nói Thánh kinh với họ, tôi tiếp xúc Thiên Chúa Giáo thì nói Mai Quế Kinh với họ, tôi tiếp xúc Hồi Giáo thì nói kinh Co Ran với họ. Đây chính là biến hoá. Họ hoan hỉ, ngay trong đó không có chút chướng ngại, liền biến thành bạn tốt, biến thành bạn đồng đạo rồi. Cho nên rất nhiều tôn giáo rất thích mời tôi đến để hội đàm diễn giảng, cùng thảo luận kinh điển với họ. Nếu như cố chấp tử thủ lấy Phật kinh của ta, nếu đem đi nói với họ, họ sẽ không tiếp nhận. Đây là gì vậy? Đây gọi là hoá, hoá thân. Chúng ta tuy là không thể biến hoá một tín đồ Ki Tô giáo, một tín đồ Hồi giáo, thế nhưng chúng ta ở trên ngôn ngữ, ở phong độ, ở lễ tiết, chúng ta tuân thủ tập quán của họ, tuân thủ tín ngưỡng của họ, hoàn toàn không bài trừ, hoàn toàn không phản đối, tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, việc này chúng ta có thể làm được. Chúng ta đến một khu vực quốc gia nào, ngôn hạnh của chúng ta, quyết định phải có lợi ích đối với khu vực quốc gia đó. Mỗi một quốc gia khu vực, thứ mà họ cần là không như nhau, chúng ta phải biết rõ, đến một khu vực nào nhất định đem đến cái mà họ cần, họ mới hoan hỉ tiếp nhận. Cho nên, có một số pháp sư giảng kinh bị thất bại.

Ngày trước tôi ở Hoa Kỳ, nghe một số pháp sư giảng kinh, giảng được không tệ, hoàn toàn y theo chú giải của đại đức xưa để giảng, tôi nghe giảng rất thú vị, thế nhưng thính chúng thì không thể tiếp nhận, tại vì sao vậy? Kinh mà pháp sư giảng là chú giải của người xưa, là muốn người nước ngoài làm người Trung Quốc, còn muốn cho họ làm người cổ Trung Quốc, thì họ không làm, họ bỏ chạy mất. Giảng kinh như vậy khế lý mà không khế cơ, bạn giảng kinh cho người Mỹ thì không thể bảo họ làm người Trung Quốc, mà phải bảo họ thành thật mà làm một người Mỹ, làm một người Mỹ hiện đại thì họ hứng thú ngay. Bạn bảo người Mỹ làm người Trung Quốc mà còn là người Trung Quốc cổ xưa nữa, người ta đương nhiên sẽ chạy mất, làm sao dám bước vào cái cửa đó nữa. Đây chính là không hiểu được biến hoá, họ không hiểu thông quyền đạt biến, họ cứ thật thà giữ lấy qui cũ của họ để giảng, vậy thì không được. Từng câu từng chữ trong kinh điển là sống, ở mỗi một quốc gia, ở mỗi một khu vực, với mỗi một đối tượng khác nhau, tuy cũng đồng là một bộ kinh này nhưng cách giảng không như nhau, cách giảng phải linh hoạt, không phải là khô cứng, như vậy mới gọi là khế cơ khế lý, mới có thể lợi ích chúng sanh. Đây gọi là hoá thân, không chỉ nói pháp, phải tùy cơ ứng biến. Thân thể chúng ta tạo tác cũng phải hằng thuận chúng sanh.

Chúng ta đến giáo đường của người khác, phải hiểu được qui củ của giáo đường họ, phải biết được lễ tiết của họ, chúng ta y theo nghi thức của họ để hành lễ thì tín đồ trong giáo của họ cảm động, không xem người chúng ta thành người ngoài, chúng ta giao đàm với họ rất thân thiết, họ có thể tin, có thể giải, liền có ích đối với họ. Nếu nhất định cố chấp, Phật pháp tôi đệ nhất, các người đều là ngoại đạo, bạn có thể độ được chúng sanh hay sao? Không thể độ được, việc này hôm qua đã nói với các vị rồi. Phật pháp là pháp bình đẳng, quyết định không có cao thấp, nếu như chúng ta tự đưa mình lên cao, xem thường người khác, đó không phải là Phật pháp, chúng ta đã sai rồi. Chư Phật Như Lai, chư Đại Bồ Tát là bình đẳng, cho nên chúng ta đối với cõi nước khác nhau, tôn giáo khác nhau, chủng tộc khác nhau, quyết định dùng tâm bình đẳng để đối đãi. Đây chính là nền tảng, đây là chân thật học Phật. Còn thái độ của chúng ta, chúng ta quyết định là tự khiêm mà kính người, chúng ta tôn trọng họ, chính mình khiêm tốn, khiêm nhường, phải tôn trọng người khác, người ta sẽ rất là hoan hỉ, vui vẻ mà qua lại với bạn. Chúng ta phải làm cho người khác xem, cho nên nhất định phải hiểu được quyền biến.

Thứ tư là Thân Lực Trì. Lực là năng lực, trì là bảo trì. Cái ý này là có trí tuệ, có sức định, có thể gìn giữ chính mình không bị đọa lạc. Trong Phật pháp thường nói “tùy duyên”, cũng nói “bất biến”, việc này mọi người nghe đã quá quen tai rồi. “Bất biến, tùy duyên” là Phật, Phật là bất biến tùy duyên, Phật chứng được vô thượng bồ đề rồi, không thể thay đổi, nhưng có thể tùy thuận chúng sanh trong chín pháp giới, đó là tùy duyên. Như trong Phổ Môn Phẩm đã nói, đáng dùng thân gì để độ thì Ngài liền hiện ra thân đó để độ, tùy loại hoá thân, tùy cơ nói pháp, tùy duyên. Bất biến tùy duyên là Phật đà, tùy duyên mà bất biến là Bồ Tát. Bồ Tát học Phật, ở ngay trong tùy duyên học bất biến. Bất biến là gì vậy? Quyết định không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ở trong tùy duyên không khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đây là bất biến. Bất cứ duyên nào đều có thể tùy, nhưng quyết định không khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, giống y như Phật. Cho nên người biết, vừa rồi tôi mới nói, các vị xem truyền hình, xem truyền hình tùy duyên, ở nơi đó học cái gì? Luyện bất biến, quyết định không bị cảnh giới đó xoay chuyển, luyện cho được cái công phu này, công phu chân thật không bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, thường hay nhắc nhở chính mình “phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, không phải là thật, không bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, luyện cái công phu này, cái này là bất biến.

Bất biến bất tùy duyên là nhị thừa. Người tiểu thừa, A La Hán, họ bất biến nhưng họ không tùy duyên. Phàm phu chúng ta thì sao? Tùy duyên tùy biến. Bốn người này phải rõ ràng tường tận. Lực Trì Thân chính là nói Như Lai có năng lực bất biến, giữ cho cái thân ở ngay trong tùy duyên mà Ngài bất biến. Đây là bản lĩnh chân thật, công phu chân thật, chúng ta phải học tập. Học tập ở đâu vậy? Học tập ngay trong đời sống. Ngay trong đời sống, không bị giàu nghèo xoay chuyển, đời sống của ta trải qua rất đạm bạc, xem thấy giàu có không động tâm, quyết định không có ngưỡng mộ, ăn uống đi đứng không bị cảnh giới xoay chuyển. Khi ăn cơm, món ăn này rất ngon, ăn thêm vài miếng thì bạn đã bị nó xoay chuyển rồi. Ăn là để no, ăn đầy bụng là được rồi. Phải chọn lựa món ăn, phải chọn lựa ngon dở, chúng ta liền bị cảnh giới xoay chuyển thì làm gì có Lực Trì thân. Bạn thấy Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa đi ra ngoài khất thực, cho cái gì ăn cái đó, quyết không có phân biệt, không có chấp trước. Ngài có lực, Ngài có thể trì thân. Nêu ra một thí dụ này để thấy là, ngay trong cuộc sống thường ngày không bị cảnh giới xoay chuyển, trong ứng đối qua lại không bị tất cả người sự việc xoay chuyển, đó gọi là Lực Trì.

Loại thân thứ năm là Trang Nghiêm Thân, tướng hảo trang nghiêm. Trong Phật kinh thường nói, vi trần tướng hảo, trang nghiêm thực báo. Cái gọi là thân có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp, là thuộc về quả báo. Thân tướng hảo của Phật Bồ Tát từ do đâu mà có? Chúng ta nhất định phải tường tận, nhất định phải ghi nhớ, Phật nói với chúng ta “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Cái tướng mạo này của chúng ta là từ tâm tưởng sanh. Tướng mạo của mỗi một người không như nhau là gì vậy? Là tâm tưởng chính ngay lúc bạn đến đầu thai. Khi bạn sanh ra được cái tướng mạo này, đây là cái nhân của đời trước, quả báo cả một đời này. Vậy thì người nói với chúng ta, chính mình phải chịu trách nhiệm đối với tướng mạo sau 40 tuổi, trước 40 tuổi là ảnh hưởng của đời trước, sau 40 tuổ (252)

Bài viết cùng chuyên mục: Các Bài Pháp Khác Của HT Tịnh Không

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


+ sáu = 10

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: