Không làm giặc, không nói xấu lãnh đạo Tổ quốc, không trốn thuế, không vi phạm pháp luật(Phần 3)

KHÔNG LÀM GIẶC, KHÔNG NÓI XẤU LÃNH ĐẠO TỔ QUỐC,

KHÔNG TRỐN THUẾ, KHÔNG VI PHẠM PHÁP LUẬT

(Báo cáo Thiện Tài Đồng Tử tham học)

Người giảng:               Lão Hòa thượng Tịnh Không

Địa điểm:                     Hội phúc lợi Phật Đà HongKong

Thời gian:                    Tháng 08 năm 2000

Phần 3

Xin mời mở giảng nghĩa, tờ thứ hai, bắt đầu xem từ hàng sau cùng thứ bảy: “ư đại chúng trung, quảng hiện thần biến, tác sư tử hống, độ thoát chúng sanh, xưng tán thọ pháp”, đó là đoạn sau cùng, hàm nghĩa trong đoạn này rất sâu rất rộng.

Đại chúng ở đây là chỉ hư không pháp giới tất cả chúng sanh, cho nên cảnh giới này rất là rộng lớn, không chỉ là chúng sanh ở địa cầu này của chúng ta, hiện tại gọi là ngay trong thái hư không vô số tinh cầu đều có chúng sanh cư ngụ ở ngay trong đó. Tuy là khoa học gia của thế gian này đã lên được mặt trăng rồi, họ thăm dò thái dương hệ chín tinh cầu lớn và phát hiện chỉ trên địa cầu mới có sinh vật cao đẳng, còn các tinh cầu khác vẫn chưa phát hiện có sinh vật sinh sống. Đây là mắt thịt chúng ta thấy được, nếu như dùng thiên nhãn để nhìn thì không như nhau, đây là hiện tại chúng ta gọi là “không gian duy thứ khác nhau”. Đạo lý này chúng ta có thể tin. Không chỉ là ở quá khứ mà chính là ở hiện đại, có rất nhiều sự việc mà khoa học gia không cách gì giải thích (Chúng ta nghe thấy việc này trong các báo cáo trên bản tin tức). Chúng ta đã từng tiếp xúc qua những nhân viên nghề ảnh, họ chụp hình ảnh thường hay gặp được cảnh giới không thể nghĩ bàn, chính là người thông thường nói gặp một số quỷ thần, không phải chỉ một người gặp được mà rất nhiều người cùng nhau gặp được. Chúng ta nghe được từng giờ là hiện tại có rất nhiều sự việc xảy ra ở Trung Quốc, ở nước ngoài.

Phật nói với chúng ta, địa cầu của chúng ta là người cùng ở chung với quỷ, con người chúng ta ở trên cái địa cầu này, quỷ cũng ở chung trên cái địa cầu này, nhưng người không thấy quỷ, quỷ cũng không thấy người là do sống ở hai không gian khác nhau. Cũng giống như trên một màn hình ti vi vậy, hình ảnh đều là xuất hiện trên một màn hình này, chỉ là kênh đài không như nhau. Cho nên chúng ta không nên đoán mò là trong mặt trăng không có người, trong thái dương không có người, nhiệt độ của mặt trời quá cao, có lẽ loại sinh vật đó, không có nhiệt độ cao đến như vậy thì họ không thể sinh tồn, nếu họ đến địa cầu cuả chúng ta họ cũng sẽ lạnh mà chết. Đạo lý này chúng ta có thể lý giải. Chúng ta xem thấy, nếu mang thực vật, sinh vật vùng nhiệt đới dời đến vùng hàn đới thì nó không thể sinh tồn; Động vật, thực vật của vùng hàn đới đưa đến vùng nhiệt đới thì nó cũng không thể sinh tồn. Cho nên do đây có thể biết, mỗi một tinh cầu có hoàn cảnh đời sống không như nhau, nhất định phải thích hợp với sinh vật của hoàn cảnh họ, hơn nữa mắt thường chúng ta không thể thấy được, không thể nào trên một tinh cầu mà không có sinh vật. Nếu nói trên tinh cầu không có sinh vật thì trên lý luận Phật pháp nói không thông. Theo đạo lý của Phật pháp thì tinh cầu này thuộc về y báo, chính là hoàn cảnh đời sống. Y báo từ nơi đâu mà đến? Y báo nhất định từ chánh báo biến hiện ra, hay nói cách khác, trước có chánh báo thì sau đó mới có y báo, không thể nào nói là có chánh báo mà không có y báo. Cho nên từ lý luận trong kinh điển Phật để quan sát, tất cả tinh cầu đều có sinh vật khác nhau sinh sống ở trong đó. Nếu như một hôm nào đó, chúng ta công phu tu hành đến nơi (việc này thông thường nói là thiên nhãn của bạn thông rồi, bạn được thiên nhĩ thông rồi) thì cách nhìn của bạn về tình hình trong tinh cầu khác so với cách nhìn thông thường của phàm phu chúng ta không như nhau, phàm phu không nhìn thấy nhưng bạn đều có thể nhìn thấy. Đây là nói về Thái Dương Hệ này của chúng ta cùng Hệ Ngân Hà, trên thực tế Thái Dương Hệ cùng Hệ Ngân Hà vẫn là một tiểu thế giới, không lớn.

Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ là một vị đại đức của Tịnh Tông và cũng là đại đức của Mật tông. Tu học của cả đời lão cư sĩ, có thể nói là Tịnh Mật song tu. Tuy là tịnh mật song tu, nhưng ông đặc biệt nghiêng nặng về Tịnh Độ, cuối đời gần như ông chuyên niệm Phật hiệu, một ngày niệm mấy vạn tiếng, vãng sanh cũng thị hiện tướng lạ hi hữu. Những việc này đều là thuộc về chân tướng sự thật. Hoàng lão cư sĩ nói, khoa học gia hiện đại phát hiện ra hệ ngân hà, trên thực tế chính là trong Phật kinh nói là một đơn vị thế giới, do đó chúng ta biết được, một ngàn đơn vị thế giới tạo thành một tinh hệ này thì gọi là tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới tạo thành một đại tinh hệ, đó gọi là đại thiên thế giới. Vậy thì một đại thiên thế giới, nếu chiếu theo cách nói của Hoàng lão cư sĩ, là mười vạn ức cái hệ ngân hà, đây chính là khu vực giáo hóa của một vị Phật. Do đó bạn liền biết được, Thích Ca Mâu Ni Phật ở trên địa cầu này của chúng ta thị hiện diệt độ, nhưng ở trên các tinh cầu khác chưa chắc Ngài đã diệt độ, có thể Ngài đang ở nơi đó giảng kinh nói pháp, giáo hóa chúng sanh. Phật có năng lực phân thân vô lượng vô biên, hôm qua chúng ta đã giảng qua, không chỉ có thể phân thân, Phật còn có thể biến ra các loại sắc tướng khác nhau, không phải chỉ có một hình tướng mà là vô lượng vô biên hình tướng. Đây chính là trên kinh Lăng Nghiêm đã nói “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng”. Trong tâm của chúng sanh nghĩ Phật là thế nào thì Phật hiện ra như thế đó, cho nên Phật không có hình tướng nhất định. Phật nói pháp cũng không có cách nói nhất định, Thế Tôn luôn hằng thuận chúng sanh. Ngài hằng thuận chúng sanh để giáo hóa chúng sanh đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh, đó là mục đích giáo hóa chúng sanh của Ngài. Đây chính là “ư đại chúng trung, quảng hiện thần biến” mà hôm qua chúng tôi cũng đã giảng qua rất nhiều, các vị phải luôn hiểu rõ. Do đó đối với tất cả pháp, chúng ta phải giống như Phật Bồ Tát, phải dùng tâm thanh tịnh để quan sát, dùng tâm bình đẳng để đối đãi, từ trong tâm thanh tịnh lưu lộ ra chân thành, từ bi của chúng ta. Chân thành, từ bi là lưu lộ của tánh đức, như vậy mới tương ưng với giáo huấn của Phật Bồ Tát.

Chư Phật Bồ Tát trụ thế đều là vì độ thoát chúng sanh, nếu chúng ta muốn học Phật Bồ Tát, làm theo Phật Bồ Tát thì không thể không độ thoát chúng sanh. Nếu như chúng ta không có cái tâm độ thoát chúng sanh, không có cái nguyện độ thoát chúng sanh, không có hành vi độ thoát chúng sanh, chúng ta không tương ưng với Phật pháp. Trong Phật pháp đã nói, chúng ta sẽ không có được thành tựu thù thắng, không có được công đức lợi ích thù thắng. Do đó chúng ta cần phải nên biết học Phật phải học như thế nào?

Thông thường người học Phật hiện đại có quá nhiều chướng ngại, chướng ngại trùng trùng. Những chướng ngại này từ nơi đâu mà có? Người xưa có một câu nói: “đều là do cái lỗi không đọc sách”. Phật lưu lại nhiều sách giáo khoa đến như vậy, chúng ta có nỗ lực đọc qua hay không? Không hề có. Biết đọc kinh, biết học thuộc kinh, việc này không thể tính. Bạn xem, các bạn nhỏ hiện tại ở Đài Loan, ở Singapore, chỉ ba bốn tuổi, bảo chúng đọc kinh, chúng có thể học thuộc lòng, đọc thuộc từng câu từng chữ, học thuộc làu làu, nhưng bạn hỏi chúng ý nghĩa là gì thì chúng không hề hiểu, chúng chỉ biết đọc, chỉ biết học thuộc. Chúng ta học Phật, ngày ngày đọc kinh niệm kinh, kinh điển cũng có thể học thuộc nhưng không hề biết ý nghĩa, vậy thì chẳng phải giống y như các bạn nhỏ ba, bốn tuổi hay sao? Làm sao có thể đem giáo huấn của Phật đà biến thành tư tưởng của chúng ta, biến thành hành vi đời sống của chúng ta? Việc này làm không được. Việc này không làm được thì không gọi là học Phật. Học Phật thì phải học giống y như Phật thì mới có thành tựu, thì mới có thể làm Phật. Không học Phật, niệm Phật thì làm sao có thể làm Phật chứ? Phải học Phật mới có thể làm Phật, chỉ niệm Phật không thì không đủ. Người xưa nói được rất thấu triệt: “miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, đau mồm rát họng chỉ uổng công”. Cho nên đại đức xưa thường nói, người niệm Phật rất nhiều, người vãng sanh rất ít. Ngày trước thầy của tôi, lão cư sĩ Lý Bĩnh Nam, thường hay nhắc nhở chúng tôi là một vạn người niệm Phật, có thể vãng sanh chỉ có hai, ba người mà thôi, chỉ chiếm hai đến ba phần vạn. Trong ba đến năm ngàn người niệm Phật mới có một người vãng sanh, không phải mỗi người niệm Phật đều vãng sanh là do nguyên nhân gì vậy? Chính là nói miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, họ không có học Phật, họ chỉ biết niệm, họ không biết học Phật.

Vậy thì người vãng sanh nhất định là người học Phật. Học bằng cách nào vậy? Đạo lý đã nói ở trong kinh điển chúng ta có hiểu được hay không? Trong kinh điển dạy bảo chúng ta nguyên tắc của đời sống, nguyên tắc của công việc, nguyên tắc đối nhân xử thế tiếp vật, chúng ta có làm theo hay không? Chúng ta không tùy thuận giáo huấn của Phật đà, chúng ta vẫn là tùy thuận phiền não tập khí của chính mình, vậy thì không thể giải quyết. Tùy thuận phiền não tập khí chính mình thì quả báo là ở sáu cõi luân hồi, cho nên nhất định phải tùy thuận giáo huấn của Phật Bồ Tát. Giáo huấn của Phật Bồ Tát có giáo học cơ bản. Cho dù bạn học một tông phái nào, hiển tông cũng tốt, mật tông cũng tốt, tông môn giáo hạ, thậm chí đến tất cả tôn giáo trên thế giới, tôi xem thấy rất nhiều kinh điển tôn giáo khác, thì giáo học cơ bản đều giống nhau. Cơ bản giáo học là gì vậy? Là pháp mười thiện, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không hai lưỡi, không ác khẩu, không thêu dệt, không tham, không sân, không si. Đây là pháp căn bản. Tất cả kinh điển của tôn giáo thế gian đều giảng mười điều thiện này. Mười điều này chúng ta đã làm được hay chưa? Nếu không làm được mười điều này, ngày ngày niệm Phật vẫn không thể vãng sanh vì tâm của bạn không thanh tịnh, tâm của bạn không chân thành. Người thân tâm ô nhiễm, tâm địa không thành thật thì làm sao có thể đến được thế giới Tây Phương Cực Lạc? Việc này không thể nào có được. Cho nên học Phật phải chú ý đến cái chữ học, chân thật hiếu học, hoan hỉ học tập với Phật thì bạn phải chân thật muốn học Phật.

Kinh điển đương nhiên phải thuộc, đọc thuộc kinh điển là giai đoạn thứ nhất, vì đọc thuộc thì không quên. Giai đoạn thứ nhất là đọc thuộc, sau khi thuộc rồi, giai đoạn thứ hai là phải hiểu, phải hiểu được rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo. Giải thì phải thâm giải, đây là Thế Tôn ở trong kinh điển thường hay dạy bảo chúng ta, thâm giải nghĩa thú. Sau khi giải rồi, giai đoạn thứ ba là phải thực tiễn. Thực tiễn cái gì? Y giáo phụng hành. Người chân thật tu hành, ngay cả các vị đồng tu phát tâm cầu thọ quy y, ngày mai sau khi chúng ta giảng kinh xong, sẽ làm nghi thức quy y cho mọi người, thế nhưng bạn phải nên biết cái gì gọi là quy y? Quy là hồi quy, quay lại. Quay lại từ đâu? Từ quá khứ tập khí vọng tưởng của chúng ta quay đầu lại, không còn y theo vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta nữa. Việc quay đầu lại này gọi là quy. Sau khi quay đầu lại thì nương vào giáo huấn của Phật Đà. Phật dạy chúng ta làm thế nào thì chúng ta làm theo thế đó, Phật dạy chúng ta không được làm thì chúng ta nhất quyết không làm.

Trong truyền thụ Tam Quy đã giảng nói rất rõ ràng, rất tường tận là chúng ta nương tựa Tam Bảo. Cái gì là Tam Bảo? Điều này phải làm cho rõ ràng. Phật là giác mà không mê, trước đây chúng ta đã ở trong mê hoặc điên đảo, hiện tại chúng ta phải nương chánh giác, không còn mê hoặc nữa, đó gọi là quy y Phật. Trong quá khứ, tư tưởng, kiến giải, cách nghĩ, cách nhìn của chúng ta sai lầm (sai thì gọi là tà tri tà kiến), chúng ta từ ngay nơi đây quay đầu lại, từ nay chúng ta nương vào chánh tri chánh giác, đó gọi là quy y pháp. Ngày trước tâm địa của chúng ta, tư tưởng, tinh thần, kiến giải của chúng ta bị rất nhiều tà tri tà kiến của xã hội ô nhiễm, chúng ta từ trong tất cả ô nhiễm này quay đầu lại, nương vào tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là Tăng bảo, tán thán Tăng thường nói “sáu căn thanh tịnh, không nhiễm một trần”. Như thế thì quy y Tam Bảo, chúng ta liền biết được ý nghĩa chân thật của Tam Bảo là giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm. Bạn muốn học Phật thì trước tiên truyền thụ cho bạn ba nguyên tắc tu hành, nguyên tắc cơ bản. Vậy thì ba nguyên tắc này tu bằng cách nào? Xin nói với các vị Thập Thiện Nghiệp Đạo chính là thực tiễn ba nguyên tắc này. Nếu chúng ta không nỗ lực tu mười việc thiện, thì bạn không thể thực tiễn được tam quy, Tam quy của bạn là giả, không phải là thật. Mười nghiệp thiện, ba điều phía trước là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm thì thân thanh tịnh; Không vọng ngữ, không nói hai chiều, không ác khẩu, không thêu dệt thì khẩu nghiệp thanh tịnh; Không tham, không sân, không si thì ý nghiệp thanh tịnh. Do đó, ba nghiệp của bạn liền thanh tịnh. Ý nghiệp thanh tịnh thì chánh tri chánh giác, thì giác mà không mê. Sự việc này thì phải thật làm, chỉ có miệng nói thì không được, mở quyển kinh ra đọc kinh, dập đầu trước tượng Phật cũng không có ích gì, phải từ trong nội tâm mà hồi đầu, phải thay đổi tự làm mới.

Mỗi câu mỗi chữ trong kinh luận đều chứa vô lượng nghĩa, cho nên bạn không thâm nhập thì làm sao làm được chứ? Chúng ta xem thấy các đại Bồ Tát, từ sơ phát tâm mãi đến khi thành Phật, một bộ kinh này vẫn niệm được rất là thú vị, không biết mệt mõi. Đây là đạo lý gì vậy? Không hề thấu hiểu hết nghĩa thú trong kinh. Nghĩa rộng của kinh không có bờ mé, nghĩa sâu không cùng tận, vì sao vậy? Đó là văn tự ngôn ngữ từ trong tự tánh lưu xuất ra, mỗi một bộ kinh đều như vậy. Cho nên Phật nói, pháp môn bình đẳng, không có cao thấp, có thể thấy được giải quyết vấn đề ở thâm giải nghĩa thú. Buổi chiều hôm nay có người đến hỏi tôi, gọi điện đến nói với tôi là thế cục ở Trung Đông rất không an định, phần tử cực đoan Hồi giáo gây sự ở bên đó, sự việc này có thể giải quyết hay không? Có thể mà! Làm thế nào để giải quyết? Giảng kinh Co-Ran cho những tín đồ Hồi Giáo đó, giảng tỉ mỉ, giảng sâu sắc thì phần tử cực đoan liền hóa giải. Tại vì sao vậy? Họ là tín đồ Hồi Giáo, Hồi Giáo gọi Thượng Đế, gọi A La, đó là tiếng A-Rập. A La không hề dạy họ đi cực đoan, không hề dạy họ đi tham chiến, chiến tranh không hề có trong kinh Co-Ran. Thực tế có nói đến thánh chiến, thánh chiến là ý gì vậy? Người nước ngoài xâm lược quốc gia dân tộc của chúng ta, chúng ta ra sức chống lại, đó gọi là thánh chiến, không phải bảo bạn đi gây phiền phức cho người khác. Nửa thế kỷ trước, người Nhật xâm chiếm Trung Quốc, Trung Quốc phát động 8 năm kháng chiến, đó là thánh chiến. Chúng ta chống lại xâm lược, chứ không phải đi xâm lược người khác. X-Lam giáo có một câu nói, đây là tiếng A-Rập, ý nghĩa là hòa bình. Mục đích tông chỉ của Hồi Giáo đều là mong cầu hòa bình, làm gì có phát động chiến tranh. Chỉ cần đem kinh này giảng sâu giảng rộng cho tín đồ Hồi Giáo, khi tín đồ Hồi giáo tường tận rồi, thì oán kết thù hận trong tâm liền được hóa giải.

Giải quyết phân tranh thế gian không phải không có đạo lý, không có cái kết nào mà không giải được, nhưng nhất định phải hiểu được là vấn đề từ do đâu phát sanh ra. Giống y như bác sĩ trị bệnh vậy, trước tiên phải tìm cho ra căn bệnh, sau đó mới tùy theo bệnh mà cho thuốc, thuốc đến thì bệnh hết. Những việc này đều ở ngay trong câu “quảng hiện thần biến”. Người xưa đã nói: “cùng tắc biến, biến tắc thông”, thần biến là siêu việt thường thức phàm phu chúng ta, là trí tuệ chân thật. “Thần kỳ mạc trắc biến thông” thì mới có thể ứng phó. Trong chín pháp giới có vô số chúng sanh, cho nên phương pháp thần biến của Phật cũng có vô lượng vô biên. Trong vô lượng vô biên phương pháp, có một nguyên tắc bất biến, chính là trên Kinh Hoa Nghiêm thường nói, “một tức là nhiều, nhiều tức là một”, một và nhiều không hai. Nhiều là nói thần biến của nó, một là nói nguyên tắc của nó, nguyên lý nguyên tắc bất biến. Nguyên lý nguyên tắc là gì vậy? Là độ thoát chúng sanh. Phương tiện vô lượng vô biên đều là vì một sự việc này. “Độ”, nếu dùng lời hiện tại mà nói, chính là giúp đỡ, hiệp trợ chúng sanh. “Thoát” là gì vậy? Thoát ly sáu cõi luân hồi, thoát ly khổ ải sanh tử, thoát ly mười pháp giới, thoát ly phiền não, thoát ly buồn lo khổ nạn.

Chư Phật Bồ Tát giúp chúng ta thoát ly, phương pháp tuy là nhiều nhưng trong phương pháp cũng có một tổng nguyên tắc. Tổng nguyên tắc này là làm sư tử hống, đó là thí dụ. Thích Ca Mâu Ni Phật ở trên địa cầu của chúng ta giảng kinh, đối với chúng sanh trên địa cầu của chúng ta nói làm Sư Tử Hống, nhưng đến các thế giới khác không nhất định dùng câu nói này. Sư Tử Hống là gì? Là nói pháp. Tại vì sao phải dùng ngôn ngữ để tuyên nói ở trên địa cầu này? Bồ Tát Văn Thù trên Kinh Lăng Nghiêm đã vì thế gian này của chúng ta mà chọn ra pháp môn, Ngài nói rất hay, “thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”. Đây là nói rõ chúng sanh của thế giới Ta Bà chúng ta, đặc biệt là chúng sanh trên địa cầu, trong sáu căn thì nhĩ căn nhạy bén nhất. Bạn cho họ xem, họ chưa chắc thấy được rõ ràng, nhưng nghe thì dễ dàng nghe được tường tận. Đặc biệt là thời đại hiện đại này, mọi người đều thích xem truyền hình, xem nghe rất rõ ràng. Bạn đưa cho họ xem một quyển sách, họ sẽ xem không được rõ ràng, họ cũng không có hứng thú, dần dần e rằng sách sẽ bị đào thải do truyền hình, đường truyền internet, vi tính đã thay thế. Thời đại này đã đi đến bước này, chân thật là “thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”.

Chư Phật Bồ Tát thị hiện ở thế gian này của chúng ta giúp đỡ mọi người, phương tiện quan trọng nhất chính là dùng ngôn ngữ, là diễn giảng. Cùng ở chung với mọi người làm nghiên cứu thảo luận, dùng phương thức tọa đàm thì rất được hoan nghênh. Như giảng đường này của chúng ta chỉ là tôi giảng, mọi người nghe rồi nhưng không có thời gian chất vấn, cùng tọa đàm thì có thể chất vấn. Sau khi mọi người nghe xong rồi, có cảm tưởng gì, có nghi vấn gì thì nêu ra, sau đó sẽ được giải đáp tỉ mỉ. Dùng phương thức này rất được hoan nghênh. Ngay trong tưởng tượng của chúng ta, tương lai hoằng pháp lợi sanh, nhất định cũng dùng phương thức tọa đàm, vậy thì bình diện này so với trên diễn giảng trên giảng đài sẽ sinh động hơn nhiều, hoạt bát hơn nhiều, cho nên rất được hoan nghênh. Đây là chúng ta xem thấy xu thế của thời đại, thế nên hiện tại có một số người tán thán, nói Phật giáo của chúng ta cũng có thể theo kịp thời đại, họ rất bội phục, kỳ thật khi chúng ta nghe rồi rất đau lòng, rất khó chịu, tại vì sao vậy? Phật pháp vốn dĩ là chỉ đạo thời đại, giáo hóa chúng sanh. Theo sau thời đại, bạn nói xem, như vậy thì làm được trò trống gì chứ? Cũng giống như đi đường vậy, Phật vốn dĩ dẫn đường, chúng ta mọi người cùng đi theo với Ngài, hiện tại thì Ngài rời hàng rơi lại phía sau, đi ở phía sau, đây chẳng phải là chuyện đáng cười hay sao? Chúng ta đi theo Phật là không hề sai, Phật đi theo phàm phu thì sai hoàn toàn.

Chúng tôi giảng kinh đã được rất nhiều năm, 40 năm trước tôi đã nói qua là xu thế thời nay không thể cất chùa nữa, không thể cất đạo tràng nữa, tại vì sao vậy? Thời đại đó đã qua rồi. Đạo tràng hiện tại là như thế nào? Truyền hình vệ tinh là đạo tràng. Chúng ta phải dùng truyền hình, dùng đường truyền internet để truyền Phật pháp đến mỗi nhà mỗi người. Tôi thấy, qua vài năm nữa, máy vi tính càng ngày càng tinh tế, có thể trong túi của mỗi người đều có một cái, bất cứ lúc nào khi mở ra thì trên màn hình nhỏ liền có thể xem thấy được, đem Phật pháp đưa đến lòng bàn tay của bạn. Những chùa miếu am đường này đều biến thành đồ xưa, di vật cổ, để cho người thế gian hoài niệm, đến tham quan những sử tích này. Cho nên vào 30 năm trước, chúng ta bắt đầu sử dụng thu âm ghi hình, không bảo làm tự viện am đường. Tôi xây dựng đào tràng lần đầu là Thư Viện Phật Giáo Thị Thính ở Đài Bắc, đạo tràng thứ hai xây ở Đài Bắc là Cơ Kim Hội Giáo Dục Phật Đà, không dùng tên gọi tự viện am đường. Chúng ta dùng phương pháp này bởi vì nguồn lực có hạn, chúng ta chế tác băng ghi hình, chế tác VCD, chế tác băng ghi âm để lưu thông đến toàn thế giới. Nếu như chúng ta có nhiều hộ pháp, có sức mạnh to lớn, chúng ta quyết định phát triển Phật pháp qua đài truyền hình vệ tinh. Phật pháp hưng suy, then chốt ở chỗ nào vậy? Ở giảng kinh nói pháp.

Buổi chiều hôm nay, ký giả báo Đại Công đến phỏng vấn tôi, họ rất lo lắng đối với khu vực Hong Kong này, đặc biệt là Phật pháp của Hong Kong. Tôi cũng nói qua với họ vấn đề này, nếu như Phật pháp muốn hưng thịnh thì ngày ngày phải lên lớp dạy học. Chúng ta nói lên lớp dạy học thì mọi người dễ hiểu, nói giảng kinh thì đó là tôn giáo, mọi người chưa chắc đến nghe, nhất là những người không phải là Phật giáo đồ. Chúng ta đổi danh từ, nói là chúng ta lên lớp dạy học thì những người không phải Phật giáo đồ cũng muốn đến nghe. Đích thực Phật giáo là giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa, dạy chúng ta làm người như thế nào, làm thế nào làm việc, làm thế nào xử thế, đây là giáo dục, là giáo học, học rồi thì liền hữu dụng. Ngày ngày lên lớp, ngày ngày dạy học, thời gian lâu rồi thì tự nhiên sẽ chuyển thành phong tục, vô hình được cảm hóa, sẽ khiến cho rất nhiều cách nghĩ sai lầm, cách thấy sai lầm, cách nói sai lầm, cách làm sai lầm của chúng ta, bất tri bất giác thay đổi lại. Mỗi ngày phải huân tập. Đương nhiên phương pháp tốt nhất là dùng truyền hình. Đài truyền hình Á Châu Hong Kong, đài truyền hình Phụng Hoàng, nếu như có thể mỗi ngày ở trên truyền hình giảng một giờ đồng hồ, giảng hai giờ đồng hồ thì khoảng nửa năm, phong khí của Hong Kong liền chuyển đổi. Đó gọi là đạo tràng. Chùa miếu cất được nhiều hơn, pháp sư nhiều hơn, nhưng không có giảng kinh, không có nói pháp thì dù 100 năm, phong khí xã hội cũng sẽ không chuyển đổi. Phật pháp không chỉ là giáo dục đạo đức, giáo dục luân lý, trên thực tế Phật pháp là giáo dục đời sống. Chúng ta nghĩ đời sống có thể trải qua được tốt, lìa khổ được vui, thì cần phải tiếp nhận giáo dục của Phật Đà.

Vậy thì do đây có thể biết, việc cấp thiết nhất hiện tại là gì? Phải bồi dưỡng nhân tài giảng kinh nói pháp, đây là quan trọng bậc nhất. Nơi nào muốn thỉnh pháp sư giảng kinh, thì nơi đó không có nhân tài giảng kinh, chúng ta không thể không hiểu rõ cái đạo lý này. Nhân tài giảng kinh đã bồi dưỡng được rồi, chúng ta lại lo lắng, lại buâng khuâng, tại vì sao vậy? Các vị làm người tín đồ tại gia quá nhiệt tâm cung kính cúng dường đối với pháp sư trẻ, việc này vốn dĩ là nên làm, thế nhưng bạn phải tỉ mỉ quan sát, bạn vừa cung kính đối với họ thì chính họ liền cho rằng họ được rồi, tâm ngạo mạn của họ liền sanh khởi, cúng dường vừa phong phú thì lòng tham liền khởi lên, thế là vị pháp sư này đọa lạc rất nhanh. Vì sao đọa lạc vậy? Bị tín đồ hại. Một vị pháp sư tốt, mới nổi vài năm, liền bị tín đồ đưa đến địa ngục A Tỳ, bạn nói xem có đáng thương hay không? Đây đều là sự thật, chúng ta nghĩ lại làm sao mà không đau lòng chứ! Các vị hảo tâm hảo ý, nhưng không hề biết lợi hại, không biết được phải quấy, đó là gì vậy? Nhà Phật gọi là ngu si! Hảo tâm làm sai việc, việc này trong và ngoài nước đều có. Vì sao bạn có thể làm như vậy? Nghe pháp quá ít. Nếu như bạn thường hay nghe kinh, thường hay nghiên cứu giáo lý thì bạn liền hiểu được, bạn đối với pháp sư này tiếp mới đưa cũ, bạn phải cẩn trọng. Ta cúng dường họ, quyết định không thể để họ khởi lòng tham, ta cung kính họ, quyết định không thể để họ sanh tâm ngạo mạn, cách làm này của bạn liền đúng.

Cho nên Thế Tôn năm xưa khi còn tại thế, tiếp nhận cúng dường của người tại gia chỉ có bốn loại: khi người xuất gia khất thực thì tiếp nhận đồ ăn uống, khi bị bệnh thì tiếp nhận cúng dường thuốc thang, khi quần áo bị rách thì tiếp nhận một bộ quần áo và cuối cùng là ngọa cụ. Ngoài bốn loại này ra, không có nhận thứ khác. Hiện tại cúng dường cái gì? Phần nhiều là cúng dường tiền, tiền càng nhiều càng tham. Khi không có tiền thì rất thanh cao, có đạo tâm, tiền nhiều rồi thì lập tức liền đọa lạc. Lời tôi nói đương nhiên không dễ nghe, nhưng tôi nói là lời thành thật. Người xuất gia vì sao đọa lạc? Bị người tại gia hại. Bạn không thể nào không biết, không thể nào không cảnh giác. Bạn phải thường ghi nhớ câu “chư Phật Bồ Tát tác sư tử hống độ thoát chúng sanh”. Cho dù chúng ta không có cái năng lực này nhưng chúng ta phải hiệp trợ chư Phật Bồ Tát để độ thoát chúng sanh, không thể lùi bước, không thể không sánh đôi với Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát muốn giúp đỡ người, đề bạt họ hướng lên trên, bạn lại kéo người này trở xuống, bạn đối đầu với Phật Bồ Tát, làm oan gia, còn tự cho rằng mình là hộ pháp tốt. Đây đều là ngu si, đều là vô tri. Cách thọ pháp này chúng ta chỉ giới thiệu đến đây.

Mời xem đến đoạn lớn thứ 4: “khiêm kỷ thôi thắng”, chỗ này chúng ta phải lưu ý, những người này đều là chư Phật Bồ Tát thị hiện thân phận, không phải là người thông thường. Họ mỗi mỗi đều là khiêm tốn, không hề ngạo mạn, đều là tán thán người khác, chính mình khiếm tốn tán dương người khác, việc này chúng ta phải nên học.

Mời xem kinh văn: “thiện nam tử, ngã duy đắc thử, ức niệm nhất thiết chư Phật, bình đẳng cảnh giới, vô ngại trí tuệ, phổ kiến pháp môn”. Vô lượng vô biên pháp môn, Bồ Tát Kiết Tường Vân nói, tôi chỉ chọn một pháp môn, “một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”. Không phải Ngài học nhiều pháp môn, Ngài chỉ học một môn, đặc biệt là ở chỗ này. 53 vị mà đồng tử tham học đều là Pháp Thân Đại Sĩ trong pháp giới nhất chân, không phải ở trong mười pháp giới, nhưng họ vẫn là một môn thâm nhập. Việc này không thể nghĩ bàn. Ngày trước chúng ta luôn cho rằng, chỉ có ở trong sáu cõi hoặc là ở trong mười pháp giới mới “một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu”. Chúng ta nghe đến lời nói này còn phải gật đầu, đến pháp giới nhất chân thì phải nên học rộng nghe nhiều, không còn chỉ một môn thâm nhập nữa, bạn xem thấy thị hiện của họ vẫn cứ là một môn thâm nhập. Cái ý này quá sâu quá rộng, chúng ta nên suy xét nhiều hơn. Từ ngay chỗ này chúng ta thể hội được, từ sơ phát tâm đến Như Lai địa đều là một môn thâm nhập, trường kỳ huân tu. Trên Kinh Hoa Nghiêm, 53 vị thiện tri thức, 53 vị chư Phật Như Lai biểu diễn cho chúng ta xem. Chúng ta đọc Hoa Nghiêm 40 quyển rồi, nếu như ngay đến việc này cũng không thấy được rõ ràng, chúng ta liền biến thành người gỗ không có cảm giác. Họ không phải biểu diễn một lần, mà biểu diễn 53 lần nhưng chúng ta vẫn không giác ngộ. Biết được chư đại Bồ Tát làm thế nào tu hành chứng quả thì việc này chúng ta mới thông. Hiểu được bí quyết rồi, không còn nghi hoặc, thì trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, trong vô lượng pháp môn, chọn một môn để thâm nhập, quyết không thay đổi thì chúng ta mới có thể thành công.

Ngày nay chúng ta tu Tịnh Độ, ngày trước thì chúng ta nương theo kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà kinh văn không dài, hàm ý quá sâu, rất khó lý giải, thế là chúng ta nương vào chú giải của tổ sư. Trong chú xưa có ba loại, Sớ Sao của đại sư Liên Trì, Viên Trung Sớ của đại sư U Khê, Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích. Ngày trước chúng ta học kinh A Di Đà dựa vào ba loại chú giải này. Ba loại chú giải này bát đại tinh thâm, không kém gì với Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Từ lúc lão cư sĩ Lý Bĩnh Nam đem Kinh Vô Lượng Thọ truyền thụ cho tôi, trong mười mấy năm nay, chúng ta ở trong và ngoài nước luôn luôn đề xướng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ. Đích thực Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ so với ba loại chú giải kinh A Di Đà của tổ sư thì dễ dàng hiểu được hơn, kinh văn cạn sâu rất nhiều, bạn đọc quen rồi, không giảng đại khái ý nghĩa cũng đều có thể hiểu được, tiện lợi cho sơ học, độ sanh vô lượng. Quyển kinh này thực tế mà nói là hiếm có, chúng ta đã từng giảng qua mười lần. Hiện tại ở Cư Sĩ Lâm Singarpore đã giảng lần thứ 11. Ngày trước đến ở nơi đâu giảng kinh cũng có hạn chế thời gian, không thể giảng tỉ mỉ, lần này ở Singapore không có hạn chế thời gian, giảng kỹ Kinh Vô Lượng Thọ. Lý nhất định phải tường tận, giáo huấn nhất định phải ghi nhớ, tu học như lý như pháp thì chúng ta mới quyết định được sanh Tịnh Độ, chính mình chân thật nắm lấy, chân thật sanh tâm hoan hỉ.

Chúng ta xem thấy Bồ Tát Kiết Tường Vân bảo Thiện Tài là Thiện Nam Tử. Thiện Tài là đại biểu người tu học đại thừa chúng ta, gọi Thiện tài chính là gọi danh tự của (247)

Bài viết cùng chuyên mục: Các Bài Pháp Khác Của HT Tịnh Không

Để lại một Bình luận

Các trường bắt buộc đánh dấu *


× ba = 3

Bạn có thể sử dụng thuộc tính HTML: